Hạ tầng văn hóa số: 'Cú hích' để du lịch bứt phá bằng công nghệ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 277 về Hạ tầng văn hóa số cho thấy, văn hóa có thể được khai thác để tạo ra giá trị kinh tế, là nền tảng để du lịch bứt phá.

Cơ hội tiếp cận nguồn dữ liệu chính thống về di sản

Ngày 9/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về Hạ tầng văn hóa số. Đánh giá về Nghị định, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho hay, thay vì đi theo lối mòn đầu tư hạ tầng vật lý phân tán, Nghị định tập trung kiến tạo cơ chế để giải quyết 8 bài toán cốt lõi thông qua mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, cụ thể: Bảo tồn di sản trong bối cảnh biến đổi nhanh; mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa; tạo nguyên liệu cho AI và kinh tế sáng tạo; thúc đẩy công nghiệp văn hóa; xây dựng thương hiệu quốc gia; tạo thị trường văn hóa số minh bạch; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; bảo đảm chủ quyền văn hóa trên không gian số.

Công nghệ giúp câu chuyện văn hóa được truyền tải sinh động, hấp dẫn hơn.

Công nghệ giúp câu chuyện văn hóa được truyền tải sinh động, hấp dẫn hơn.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Phạm Hải Quỳnh - Viện trưởng Viện Phát triển du lịch châu Á (ATI), việc Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP (Nghị định) là một bước ngoặt thể chế mang tính đột phá, đúng thời điểm, đáp ứng nhu cầu của ngành du lịch cũng như công nghiệp văn hóa thông qua việc mở ra cơ hội phát triển sản phẩm trải nghiệm mới, tiếp cận kho tài nguyên số hóa khổng lồ. Từ đó, doanh nghiệp du lịch có thể dễ dàng truy cập vào các dữ liệu di sản, bảo tàng, nghệ thuật truyền thống và sự kiện thể thao để tích hợp công nghệ tạo ra các tour du lịch thực tế ảo, du lịch thông minh, tour tương tác số...

Với nguồn dữ liệu chính thống về di sản, bảo tàng, lễ hội, nghệ thuật, ẩm thực, theo ông Bùi Thanh Tú - Giám đốc Marketing Công ty BestPrice Travel, đây là cơ hội tiếp cận để doanh nghiệp có thể xây dựng bản đồ du lịch văn hóa số, hệ thống thuyết minh tự động đa ngôn ngữ, tour thực tế ảo, trải nghiệm thực tế tăng cường tại điểm đến hoặc hành trình được cá nhân hóa theo sở thích của từng du khách. “Quan trọng hơn, công nghệ giúp câu chuyện văn hóa được truyền tải sinh động hơn, qua đó kéo dài thời gian trải nghiệm, tăng mức chi tiêu và nâng cao giá trị của điểm đến, thay vì chỉ tăng số lượng khách”, ông Tú cho hay.

Đồng quan điểm, ông Lê Công Năng - Chủ tịch Công ty Wondertour cũng nhấn mạnh, lần đầu tiên, chúng ta có một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh để phát triển hạ tầng văn hóa số theo hướng đồng bộ, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các lĩnh vực văn hóa, du lịch và thể thao. Điều này thể hiện tư duy mới, đó là coi văn hóa không chỉ là giá trị tinh thần cần bảo tồn mà còn là nguồn lực phát triển, có thể được khai thác để tạo ra giá trị kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

Đối với ngành du lịch, theo ông Lê Công Năng, Nghị định không chỉ mang ý nghĩa về công nghệ mà còn mở ra một phương thức phát triển mới. Bởi, trước đây doanh nghiệp chủ yếu khai thác tài nguyên văn hóa theo hình thức truyền thống, còn trong tương lai, dữ liệu văn hóa số sẽ trở thành “nguyên liệu đầu vào” để doanh nghiệp sáng tạo những sản phẩm có hàm lượng tri thức và công nghệ cao hơn. Đây là nền tảng để du lịch chuyển từ khai thác tài nguyên sang khai thác giá trị văn hóa.

Khai thác dữ liệu văn hóa một cách hiệu quả

Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định số 277/2026/NĐ-CP là thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển thông qua việc khai thác dữ liệu văn hóa số một cách hợp pháp, tạo nền tảng cho các sản phẩm sáng tạo. Tuy nhiên, để biến kho dữ liệu văn hóa thành lợi thế cạnh tranh và tạo ra các sản phẩm du lịch mang bản sắc Việt Nam, cần rất nhiều nỗ lực từ phía cộng đồng doanh nghiệp.

Nêu ý kiến về vấn đề này, ông Phạm Hải Quỳnh cho hay, doanh nghiệp phải chuyển đổi tư duy từ "kinh doanh dịch vụ thuần túy" sang "kinh doanh nội dung sáng tạo dựa trên văn hóa". Cùng với đó, tăng cường đào tạo và xây dựng đội ngũ nhân sự vừa am hiểu về di sản văn hóa Việt Nam, vừa thành thạo các công cụ ứng dụng công nghệ và dữ liệu số. Chủ động đầu tư hoặc hợp tác xây dựng hệ thống phần mềm, nền tảng công nghệ có khả năng kết nối các ứng dụng phần mềm API chuẩn hóa với hạ tầng dữ liệu quốc gia để tiếp nhận, khai thác dữ liệu số hợp pháp. Đồng thời, xây dựng quy trình tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bản quyền số, quyền sở hữu trí tuệ để khai thác dữ liệu văn hóa một cách chuẩn mực, nhân văn và bền vững.

Còn theo ông Bùi Thanh Tú, dữ liệu chỉ là nguyên liệu, còn giá trị nằm ở cách kể câu chuyện. Doanh nghiệp phải biết biến lịch sử, di sản, làng nghề, nghệ thuật truyền thống thành những trải nghiệm hấp dẫn, gần gũi và phù hợp với từng nhóm khách hàng. Ngoài ra, cần tăng cường liên kết với địa phương, nghệ nhân, bảo tàng, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ để hình thành hệ sinh thái sáng tạo. Khi đó, dữ liệu văn hóa không chỉ được lưu trữ mà còn được “thổi hồn” thành những sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Tại Nghị định số 277/2026/NĐ-CP, Nhà nước sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp thông qua các chính sách hỗ trợ về công nghệ, đổi mới sáng tạo, xúc tiến đầu tư và kết nối hệ sinh thái văn hóa. Từ thực tiễn của doanh nghiệp, ông Bùi Thanh Tú mong muốn chính sách được triển khai theo hướng doanh nghiệp có thể tiếp cận và thử nghiệm nhanh, thay vì phải trải qua quá nhiều thủ tục. Theo đó, cần sớm công bố tiêu chuẩn dữ liệu, cơ chế cấp quyền, mức phí, quy định bản quyền và các API để doanh nghiệp có thể chủ động tích hợp vào sản phẩm.

Ngoài ra, Nghị định quy định doanh nghiệp có thể được hỗ trợ sử dụng miễn phí dịch vụ hạ tầng số trong thời gian nhất định để nghiên cứu, phát triển sản phẩm. Theo ông Bùi Thanh Tú, đây là chính sách rất thiết thực, nhưng cần có quy trình đăng ký đơn giản, tiêu chí minh bạch và ưu tiên các dự án có khả năng thương mại hóa. Bên cạnh đó, nên hình thành các chương trình thí điểm tại một số điểm đến, cho phép Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp lữ hành cùng phát triển sản phẩm. "Nhà nước có thể hỗ trợ dữ liệu, hạ tầng và xúc tiến; doanh nghiệp chịu trách nhiệm thiết kế, đưa sản phẩm ra thị trường và đo lường hiệu quả. Khi có cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư dài hạn vào du lịch văn hóa số", ông Tú nêu.

Còn theo ông Lê Công Năng, hiện nay, WonderTour đang đầu tư nghiên cứu và thiết kế robot hướng dẫn viên tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), có khả năng giao tiếp bằng nhiều ngôn ngữ, cung cấp thông tin về điểm đến, lịch sử, văn hóa, di sản, phong tục tập quán và tư vấn hành trình du lịch theo nhu cầu của từng du khách. Tuy nhiên, để phát triển những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như vậy, doanh nghiệp cần nguồn lực đầu tư rất lớn. Vì vậy, doanh nghiệp lữ hành có được hỗ trợ đổi mới sáng tạo hoặc các chương trình vay vốn với lãi suất phù hợp để đầu tư vào công nghệ, AI và chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, ông Lê Công Năng bày tỏ thêm, cần có cơ chế để doanh nghiệp được tiếp cận thuận lợi với cơ sở dữ liệu văn hóa số quốc gia, kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ nhằm rút ngắn quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm. “Nếu có sự đồng hành này, tôi tin rằng sẽ có nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư xây dựng các tour du lịch thông minh, bảo tàng số, hướng dẫn viên AI, trải nghiệm thực tế ảo và các sản phẩm gắn với quảng bá văn hóa Việt Nam. Khi đó, du lịch không chỉ tạo doanh thu mà còn thực hiện tốt vai trò là đại sứ văn hóa, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới của đất nước”, ông Lê Công Năng nói.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nếu như hạ tầng giao thông kết nối con người và hàng hóa, hạ tầng số kết nối dữ liệu và tri thức thì hạ tầng văn hóa số chính là hạ tầng chuyên ngành kết nối bản sắc dân tộc với sáng tạo, kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia.

Bảo Thoa

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/ha-tang-van-hoa-so-cu-hich-de-du-lich-but-pha-bang-cong-nghe-467197.html