Hàng phở khó chứng minh con gà mua ở đâu mà có hóa đơn, chứng từ
Đại diện VCCI cho biết, doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng phải mở sổ sách kế toán, có đến 4 loại sổ sách và nộp thuế trên doanh thu trừ chi phí, song chứng minh chi phí thực tế không đơn giản.
Ngày 28/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hỗ trợ theo kết quả, không cào bằng
Dưới góc độ của doanh nghiệp, Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đậu Anh Tuấn cho biết, từ kinh nghiệm thực hiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, ông Đậu Anh Tuấn đề nghị ưu tiên những chính sách có khả năng thực thi ngay sau khi luật được ban hành.
Theo ông, nhiều chính sách hỗ trợ về tiền, vốn, đất đai có mục tiêu tốt nhưng để đi vào cuộc sống phải có bộ máy, nguồn lực và động lực thực hiện. Thực tế cho thấy khi triển khai xuống cơ sở, số doanh nghiệp thực sự được thụ hưởng còn ít.
"Luật nên ưu tiên những chính sách mà sau khi ban hành có thể tự thực hiện được ngay", ông Tuấn cho hay.

Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đậu Anh Tuấn (Ảnh: Media Quốc hội).
Một trong những chính sách được ông Đậu Anh Tuấn đặc biệt đề cập là cho phép doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và nếu có thể mở rộng cả với hộ kinh doanh được nộp thuế theo doanh thu.
Đại diện VCCI cho biết, doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng phải mở sổ sách kế toán, có đến 4 loại sổ sách và nộp thuế trên doanh thu trừ chi phí. Trong khi đó, với doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh, việc xác định và chứng minh chi phí thực tế không đơn giản.
"Một hàng phở mà phải chứng minh được con gà mua ở đâu mà có hóa đơn, chứng từ thì tính chi phí rất khó", ông Tuấn nêu ví dụ.
Ông Đậu Anh Tuấn nhận định nếu cho nộp thuế trên doanh thu sẽ tác động đến 5-6 triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, hiệu ứng xã hội sẽ rất lớn.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn (Ảnh: Media Quốc hội).
Nhấn mạnh dự thảo Luật cần bám sát tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 198 của Quốc hội về phát triển kinh tế tư nhân, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ, mục tiêu là phải hỗ trợ theo khả năng cung cấp của Nhà nước sang hỗ trợ theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, đo bằng kết quả đầu ra.
Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có đột phá về chính sách, đó là thay đổi tiêu chí xác định và đối tượng ưu tiên; khơi thông điểm nghẽn nguồn lực: tài chính, tín dụng, đất đai, hạ tầng.
"Sắp tới Quốc hội sửa Luật Đất đai và hàng loạt các Luật khác để phục vụ cho sự phát triển của đất nước thì trong này doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng được hưởng lợi", Chủ tịch Quốc hội cho hay.
Yêu cầu tiếp theo là phải đổi mới phương thức hỗ trợ: hỗ trợ theo kết quả, không cào bằng. Lưu ý vấn đề hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, Chủ tịch Quốc hội cho rằng với doanh nghiệp "vấn đề đầu tiên là tiền đâu".
"Rào cản lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay chính là tiếp cận vốn. Nếu cho vay dựa trên dữ liệu được thiết kế tốt và bảo lãnh tín dụng hiệu quả thì sẽ đảm bảo tăng trưởng lớn", Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.
Tuy vậy, Chủ tịch Quốc hội chỉ ra thách thức khi các ngân hàng thương mại e ngại rủi ro "tài sản vô hình" nên cần quy định rõ ràng về tài sản số, tránh quy định "nằm trên giấy".
Giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ
Giải trình sau đó về vấn đề tiếp cận vốn, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 98,4% tổng số doanh nghiệp, nhưng dư nợ tín dụng dành cho khu vực này chỉ khoảng 19-20%, ở mức thấp.
Lý giải, Bộ trưởng cho rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa thường mới thành lập, quy mô nhỏ và đặc biệt là thiếu tài sản thế chấp, nên việc tiếp cận vốn gặp nhiều khó khăn.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn (Ảnh: Media Quốc hội).
"Chúng ta cần tháo gỡ điểm nghẽn là cơ chế", Bộ trưởng nói, đồng thời cho biết các chính sách hỗ trợ đang được triển khai theo tinh thần các nghị quyết liên quan.
Theo Bộ trưởng, thời gian tới Chính phủ sẽ ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất 2% đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia lĩnh vực kinh tế sinh thái, tuần hoàn.
Đáng chú ý, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết hiện đang có 2 nhóm quỹ liên quan trực tiếp đến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, gồm quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Trung ương và các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp ở địa phương. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, hoạt động của các quỹ này còn rất hạn chế.
Hiện có 19/24 quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương hoạt động, nhưng "hoạt động rất èo uột". Dẫn số liệu cụ thể, Bộ trưởng cho biết, sau 13 năm hoạt động, các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ có doanh số bảo lãnh khoảng 4.300 tỷ đồng, với 2.100 hợp đồng bảo lãnh cho khoảng 1.000 doanh nghiệp. Dư nợ trả nợ thay khoảng 130 tỷ đồng, trong đó đã trả nợ khoảng 24 tỷ đồng.
Đối với Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, sau 13 năm hoạt động, số tiền giải ngân khoảng 1.400 tỷ đồng và đã thu hồi khoảng 1.156 tỷ đồng. "Tôi lấy ví dụ như vậy để thấy rằng chúng ta phải tính phương án mới", Bộ trưởng nhấn mạnh.
Theo Bộ trưởng, một trong những vấn đề cốt lõi của hoạt động tín dụng là kiểm soát dòng tiền của doanh nghiệp vay. Bộ trưởng phân tích, các ngân hàng thương mại không chỉ dựa vào tài sản bảo đảm mà còn kiểm soát dòng tiền, doanh thu, chi phí của đối tượng vay thông qua hệ thống. Trong khi đó, các quỹ bảo lãnh tín dụng hiện chưa có được hệ thống kiểm soát dòng tiền tương tự.
Đây là một trong những cơ sở để nghiên cứu, đổi mới phương thức hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới.
Một nội dung khác được Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn làm rõ là chính sách thuế đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ. Bộ trưởng cho biết, Chính phủ đang quyết liệt rà soát thủ tục hành chính về thuế và hải quan, hướng tới rút ngắn thời gian tuân thủ và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Theo đó, sau khi Luật được ban hành, Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn đối với nhóm doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng thực hiện phương pháp tính thuế đơn giản theo tỉ lệ phần trăm trên doanh thu. Bộ trưởng cho biết đây là hướng được nghiên cứu trên cơ sở khảo sát cùng VCCI và các hiệp hội doanh nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu về giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ.
Cách tiếp cận này cũng được đặt trong tổng thể yêu cầu tiếp tục cải cách thủ tục, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp quy mô nhỏ trong quá trình hoạt động.
