Hàng triệu người cao tuổi có thể nhận trợ cấp hưu trí cao nhất từ trước đến nay
Khoảng 2,5 triệu người cao tuổi có thể được tăng mức trợ cấp hưu trí xã hội cao nhất từ trước đến nay vào 1/7 sắp tới.
Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội.
Tại dự thảo Nghị định, Bộ Y tế đề xuất Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng (tăng 8%), dự kiến thực hiện từ ngày 1/7/2026.

Trợ cấp hưu trí cho người 75 tuổi dự kiến tăng lên 540.000 đồng từ ngày 1/7. Ảnh minh họa
Lý giải đề xuất mức tăng trên theo Bộ Y tế, việc đề xuất lộ trình tăng nêu trên để bảo đảm tính đồng bộ với lộ trình cải cách tiền lương. Theo dự kiến, từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở sẽ được điều chỉnh tăng khoảng 8%. Việc đề xuất tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội tương ứng 8% đảm bảo sự tương quan, hài hòa giữa các chính sách an sinh xã hội với chính sách tiền lương của khu vực công, tránh tạo ra khoảng cách quá lớn giữa các nhóm đối tượng trong xã hội
Việc nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức chuẩn trợ cấp hưu trí xã hội và mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách đã từng bước đáp ứng được nhu cầu trợ giúp xã hội của một bộ phận dân cư có hoàn cảnh khó khăn.
Dự kiến mức trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng dành cho người cao tuổi
Theo báo cáo của Bộ Y tế, thực hiện Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và Nghị định số 176/2024/NĐ-CP, năm 2025, cả nước thực hiện trợ cấp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng cho khoảng 4,5 triệu người (tăng khoảng 1,6 triệu người so với năm 2024). Trong đó, 2 triệu người đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng và 2,5 triệu người cao tuổi hưởng chế độ trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng
Theo đó, dự thảo nghị định nêu mức trợ cấp xã hội hằng tháng áp dụng cho người cao tuổi từ 60 đến dưới 75 tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng bằng mức trợ giúp xã hội nhân với 1,5, tương đương 810.000 đồng.
Tương tự, với người cao tuổi trên 75 thuộc diện như trên sẽ có mức trợ cấp hằng tháng bằng mức trợ giúp xã hội nhân với 2, tương ứng 1,08 triệu đồng.
Đặc biệt, nhóm người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng; không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng thì sẽ nhận mức trợ cấp bằng mức trợ giúp xã hội nhân với 3, tương ứng 1,62 triệu đồng.
Bên cạnh đó, dự thảo nghị định cũng đề xuất mức trợ cấp hưu trí hằng tháng với người từ đủ 75 tuổi trở lên không có lương hưu, trợ cấp là 540.000 đồng/tháng.
Còn người đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ và đáp ứng đủ điều kiện quy định cũng được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội với mức trên.
Các đối tượng hưởng trợ giúp xã hội khác theo dự thảo
Bên cạnh nhóm trên, dự thảo nghị định quy định nhóm được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng gồm:
1. Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau:
Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;
Mồ côi cả cha và mẹ; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại không xác định được;
Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2. Người thuộc diện quy định trên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng đang tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.
3. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.
4. Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo nuôi con).
Trường hợp người đơn thân nghèo nuôi con đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản này, nhưng người con đó đủ 16 tuổi và đang tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, đại học văn bằng thứ nhất thì người đơn thân nghèo nuôi con tiếp tục được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho đến khi người con kết thúc học.
5. Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.
6. Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo
7. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.











