Hành lang pháp lý kiến tạo phát triển trí tuệ nhân tạo
Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, đưa Việt Nam vào nhóm rất ít quốc gia ban hành luật riêng về AI.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: TTXVN
Việc luật hóa một lĩnh vực công nghệ nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ được xem là bước hoàn thiện quan trọng về thể chế cho nền kinh tế số. Đến nay trên thế giới, mới có 3 chủ thể ban hành luật riêng về trí tuệ nhân tạo, gồm Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc và Nhật Bản.
Phần lớn các quốc gia khác dừng ở mức chiến lược, hướng dẫn hoặc quy định rải rác trong các văn bản liên quan, đồng thời đang trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo luật. Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo cho thấy cách tiếp cận chủ động về chính sách đối với công nghệ mới.
Chia sẻ về tầm nhìn phát triển AI, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: “AI phải trở thành hạ tầng trí tuệ quốc gia, phục vụ nhân dân, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”.
Theo Bộ trưởng, AI không chỉ là công nghệ ứng dụng mà đang trở thành một loại hạ tầng quốc gia, tương tự điện, viễn thông hay Internet. “Chúng ta sẽ thực hiện AI hóa như là điện khí hóa, nhưng chúng ta sẽ AI hóa nhanh hơn, nhanh nhất có thể”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói.
*Lấy con người làm trung tâm
Luật Trí tuệ nhân tạo được thiết kế theo mô hình luật khung, gồm 8 chương, 35 điều, xác lập các nguyên tắc nền tảng và giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh của công nghệ. Phạm vi điều chỉnh bao trùm hoạt động nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam, trừ các hoạt động phục vụ riêng cho mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia và cơ yếu.
Một nguyên tắc xuyên suốt của luật là lấy con người làm trung tâm. Trí tuệ nhân tạo được xác định là công cụ phục vụ con người, không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người; mọi hệ thống AI phải bảo đảm duy trì sự kiểm soát và khả năng can thiệp của con người đối với các quyết định và hành vi do hệ thống tạo ra.
Luật đặt ra yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền riêng tư, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và an ninh quốc gia; bảo đảm an toàn hệ thống, an ninh dữ liệu và bảo mật thông tin; bảo đảm khả năng kiểm tra, giám sát trong suốt quá trình phát triển và vận hành. Các nguyên tắc về công bằng, minh bạch, không thiên vị, không phân biệt đối xử và không gây hại cho con người, xã hội cũng được xác lập cùng với yêu cầu tuân thủ chuẩn mực đạo đức, giá trị văn hóa Việt Nam và thực hiện trách nhiệm giải trình đối với các quyết định do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra.
Một nội dung đáng chú ý là quy định về gắn nhãn đối với nội dung do AI tạo ra. Hệ thống trí tuệ nhân tạo tương tác trực tiếp với con người phải được thiết kế và vận hành để người sử dụng nhận biết mình đang tương tác với hệ thống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng AI nhằm mô phỏng ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế phải được gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật. Đối với tác phẩm điện ảnh, nghệ thuật hoặc sản phẩm sáng tạo, việc gắn nhãn được thực hiện theo phương thức phù hợp, bảo đảm không làm cản trở việc trình diễn hoặc thưởng thức.
Về quản lý rủi ro, luật phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo theo ba mức độ: rủi ro thấp, trung bình và cao. Hệ thống rủi ro cao là hệ thống có thể gây thiệt hại đáng kể đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc an ninh quốc gia. Hệ thống rủi ro trung bình là hệ thống có khả năng gây nhầm lẫn, tác động hoặc thao túng người sử dụng do không nhận biết được chủ thể tương tác là hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc nội dung do hệ thống tạo ra. Các hệ thống còn lại được xếp vào nhóm rủi ro thấp.
Việc phân loại được căn cứ vào mức độ tác động đến quyền con người, an toàn, an ninh; lĩnh vực sử dụng, nhất là lĩnh vực thiết yếu hoặc liên quan trực tiếp đến lợi ích công cộng; phạm vi người sử dụng và quy mô ảnh hưởng của hệ thống. Cách tiếp cận này nhằm tập trung kiểm soát chặt chẽ các hệ thống rủi ro cao, đồng thời tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo đối với các ứng dụng rủi ro thấp.
Luật cũng xác định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có việc lợi dụng AI để lừa dối, thao túng nhận thức; khai thác điểm yếu của các nhóm dễ bị tổn thương; tạo hoặc phát tán nội dung giả mạo gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Việc thu thập, xử lý, sử dụng dữ liệu trái quy định; cản trở cơ chế giám sát, kiểm soát của con người; che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch trong hoạt động AI cũng bị nghiêm cấm.
Về trách nhiệm pháp lý, tổ chức, cá nhân vi phạm tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật dân sự. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo rủi ro cao được vận hành đúng quy định nhưng vẫn phát sinh thiệt hại, bên triển khai vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Nếu hệ thống bị bên thứ ba xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì bên thứ ba phải chịu trách nhiệm; trường hợp bên triển khai hoặc nhà cung cấp có lỗi thì phải liên đới bồi thường theo quy định của pháp luật.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết việc xây dựng Luật AI dựa trên các quan điểm cốt lõi như: quản lý theo mức độ rủi ro; minh bạch và trách nhiệm giải trình; đặt con người vào vị trí trung tâm; khuyến khích phát triển AI trong nước, tự chủ về AI; lấy AI làm động lực tăng trưởng nhanh và bền vững; bảo vệ chủ quyền số, trong đó dữ liệu, hạ tầng và công nghệ AI là ba trụ cột chiến lược. “AI là công cụ mạnh mẽ, nhưng con người mới là chủ thể ra quyết định cuối cùng”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.

Khuyến khích phát triển AI trong nước. Ảnh minh họa: Phú Vinh/BNEWS/TTXVN
*Thiết lập Quỹ phát triển AI quốc gia
Bên cạnh cơ chế quản lý rủi ro, luật dành nội dung về phát triển hệ sinh thái và nguồn lực cho trí tuệ nhân tạo, trong đó quy định thành lập Quỹ phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia.
Theo luật quy định, đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì lợi nhuận, do Chính phủ thành lập nhằm huy động và phân bổ nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý trí tuệ nhân tạo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.
Quỹ được áp dụng cơ chế tài chính đặc thù, chấp nhận rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phân bổ vốn phù hợp với tiến độ, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ; được áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với nhiệm vụ có tính chiến lược hoặc yêu cầu triển khai nhanh. Việc quản lý và sử dụng Quỹ phải bảo đảm đúng mục đích, công khai, minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đòi hỏi nguồn lực lớn về dữ liệu, hạ tầng tính toán và nhân lực chất lượng cao, việc thiết kế cơ chế tài chính linh hoạt được xem là một bước đi nhằm hỗ trợ các nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI có tính trọng điểm.
Với hiệu lực từ ngày 1/3/2026, Luật Trí tuệ nhân tạo mở ra khuôn khổ pháp lý thống nhất cho hoạt động phát triển và ứng dụng AI tại Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu cao về tổ chức thực thi, giám sát và trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong quá trình đưa khoa học công nghệ vào đời sống./.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/hanh-lang-phap-ly-kien-tao-phat-trien-tri-tue-nhan-tao/412331.html














