Hành trình gốm Việt theo dấu chân Cécile

Con đường vào làng Ki'nonh (xã Hùng Sơn) uốn theo sườn núi, hẹp, dốc, và im vắng đến mức người ta có thể nghe rõ tiếng gió xào xạc. Ở cuối con đường ấy, một phụ nữ đặt máy quay xuống, ngồi xổm bên khối đất sét, lặng lẽ nhìn đôi bàn tay nghệ nhân già nắn theo vòng tròn. Người phụ nữ ấy là Cécile de Francquen - nhà nhân học, khảo cổ học người Bỉ.

Trong lò gốm ở Thanh Hà. Ảnh: L.T.K

Trong lò gốm ở Thanh Hà. Ảnh: L.T.K

Cuối năm 2025, trên nền tảng số của Bảo tàng Anh, dự án Documenting the Knowledge of Vietnam’s Traditional Potters - Ghi lại tri thức của những người thợ gốm truyền thống Việt Nam được công bố. Câu chuyện ngàn năm của những làng gốm xứ Việt được lần giở. Đặc biệt hơn, hình như có phần ưu ái từ Cécile, khi Đà Nẵng có đến 3 trong số 4 làng gốm được chọn công chiếu. Chúng tôi theo chân Cécile để cùng người phụ nữ này ghi lại ký ức của bàn tay, trí nhớ của đất...

Cuộc ngược dòng

Cũng không phải lần đầu Cécile đến Việt Nam. Vài năm trước, cô đã có nhiều tháng trải nghiệm tại các làng gốm ven sông Hồng, trong đó, tại làng gốm Bát Tràng, Cécile học được kỹ thuật vuốt bàn xoay, tạo cốt gốm mỏng và làm nên nhiều sản phẩm ghi dấu ấn đặc biệt.

Lần này, cuộc hành trình với những người thợ gốm ở xứ sở An Nam xưa, Cécile chọn ghi lại tri thức từ những làng gốm đã dần phôi phai trong ký ức đời sống lẫn câu chuyện phục hưng của làng gốm làm du lịch. Và Cécile nói, chính 3 làng gốm ở xứ sở Trung Bộ này, bao gồm làng gốm cổ Ki’nonh, làng gốm Thanh Hà (Hội An) và làng gốm Quế An (Quế Sơn) khiến cô dừng lại lâu nhất với cách làm gốm, cách con người đối thoại với đất và lửa.

Hành trình ấy đã vượt thoát khỏi ý niệm của một chuyến khảo sát. Cécile cho rằng, những ngày trải nghiệm các làng gốm từ trên vùng núi cao đến làng, giống một cuộc lội ngược dòng về quá khứ, từ hiện đại về cổ sơ, từ bàn xoay về bước chân, từ lò nung khép kín về lửa trời, từ sản phẩm hàng hóa về vật dụng sinh tồn...

Ở làng gốm cổ Ki’Nonh - làng gốm của người Cơ Tu ở xã Hùng Sơn, Đà Nẵng, những đôi mắt nâu ánh lên trong trời chiều u uẩn, như bừng thức lại niềm kiêu hãnh đã từng của người Cơ Tu xứ này. Một dòng gốm không bàn xoay, không lò nung, không men, nhưng lại nắm giữ chìa khóa giải mã những bí ẩn khảo cổ hàng nghìn năm.

Người Cơ Tu đi lấy đất làm gốm ở những vùng thung lũng. Ảnh: S.Q

Người Cơ Tu đi lấy đất làm gốm ở những vùng thung lũng. Ảnh: S.Q

Điểm đặc biệt nhất khiến chuyên gia của Bảo tàng Anh phải lặn lội đến tận xứ đầu nguồn này để ghi hình chính là kỹ thuật chế tác. Trong thế giới gốm sứ hiện đại, bàn xoay là “trái tim” của quy trình sản xuất. Nhưng tại Ki’Nonh, chiếc bàn xoay ấy... không tồn tại. Thay vì đặt đất lên bàn xoay và dùng lực chân đạp để tạo hình, người Cơ Tu giữ khối đất đứng yên và chính người thợ sẽ di chuyển. Khối đất hình trụ được đặt lên một mảnh lá chuối tươi để chống dính. Người phụ nữ Cơ Tu sẽ cúi khom mình, đôi chân di chuyển xung quanh khối đất.

“Đó là một cảnh tượng lao động đầy nghệ thuật” - Cécile nói. Một tay người đàn bà Cơ Tu ấn vào lòng đất để tạo độ rỗng, tay kia vuốt bên ngoài để định hình. Cứ thế, người thợ đi giật lùi, xoay tròn quanh sản phẩm. Những vết xước nhỏ chạy theo chiều ngang trên thân gốm thoạt nhìn giống như được tạo ra từ bàn xoay, nhưng thực chất đó là dấu ấn từ những bước chân cần mẫn và đôi bàn tay nghệ nhân khéo léo.

Và đất sét để người đàn bà Cơ Tu làm nên những mẻ gốm không phải là đất sét thường. Đó là loại đất màu vàng nhạt pha cát nâu, có lẫn nhiều tinh thể thạch anh nhỏ. Chính những hạt thạch anh li ti này đóng vai trò như chất cốt liệu tự nhiên, giúp gốm không bị nứt vỡ khi nung ở nhiệt độ cao.

Mỏ đất nằm ở chân núi với những con đường mòn băng qua cánh đồng bạt ngàn, heo hút. Khi vừa chạm chân núi, điểm đến đã hiện ra như một cái hang đất nhỏ ghi dấu vết bao lần đào bới của người ở Ki’nonh. Đây phải là nơi có nhiều mạch nước chảy qua, cách làng gần ngàn mét - nơi được cho là những ruộng lúa nước sớm nhất của tộc người này.

Quy trình sơ chế đất cũng lắm công phu. Đất được dầm nhỏ ngay tại hố, gùi về làng, rồi lại được giã nhuyễn trên những phiến đá lớn giữa sân làng. Một người phụ nữ phải mất đến 30 phút vừa giã vừa trộn mới xong một gùi đất nặng 30 - 40kg.

Hình ảnh nữ nghệ nhân làng gốm Ki'noong được đăng tải ở trang tư liệu của Bảo tàng Anh.

Hình ảnh nữ nghệ nhân làng gốm Ki'noong được đăng tải ở trang tư liệu của Bảo tàng Anh.

Và rồi, nghi thức cuối cùng để “thổi hồn” cho đất là nung. Gốm Ki’nonh được nung lộ thiên - phương pháp cổ xưa nhất của loài người, tương đồng với cách nung của cư dân Sa Huỳnh, Champa hàng trăm năm trước ở Nam Trung Bộ. Vào những ngày đẹp trời, sản phẩm mộc đã phơi khô được xếp thành hình chóp giữa sân làng. Củi khô chất xung quanh và đốt. Đó là một cuộc chơi đầy may rủi với lửa, nhưng kinh nghiệm ngàn đời đã giúp họ đạt tỷ lệ thành phẩm lên tới 80 - 85%.

Qua quá trình nung, những món đồ gốm màu đen tuyền, như bước ra từ quá khứ.

Văn minh bản địa

Trên nền tảng số của Bảo tàng Anh, những hiện vật gốm Ki’Nonh hiện lên với đầy đủ tên gọi bản địa và công năng mà người Ki’Nonh chế tác. Không chỉ có nồi niêu thông thường, hệ thống sản phẩm của họ rất phong phú, như A Pưah - những chiếc nồi tròn lớn dùng để trữ lương thực; Ki Đêếh - chậu cỡ vừa, vật dụng thiết yếu trong gian bếp người Cơ Tu; Apó Đác Puih - một loại ấm có vòi dùng để đun nước, mang dáng dấp của ấm trà nhưng thô mộc hơn; Tơr pơn - những vật dụng hình sừng độc đáo dùng để kê nồi trên bếp lửa.

Và trên nền tảng số này, những cái tên như bà Bling Thị Thúah, bà Zơrâm Thị Nga được tôn vinh là những nghệ nhân - những người hiếm hoi còn giữ kỹ thuật chế tác dòng gốm này. Theo phong tục cổ truyền, nghề gốm ở Ki’Nonh mang tính “gia truyền” và “nội bất xuất”. Con gái biết làm gốm không được lấy chồng làng khác, hoặc nếu lấy thì không được mang nghề theo. Điều này giúp giữ bí quyết nghề nghiệp nhưng lại vô tình cô lập nó, khiến nghề không thể lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng người Cơ Tu.

Gốm Thanh Hà. Ảnh: L.T.K

Gốm Thanh Hà. Ảnh: L.T.K

Mang niềm đau đáu tiếc nuối này, Cécile tìm đến làng gốm bên chân đèo Le - nơi nghề gốm chỉ còn ở người già. Quế An nằm giữa vùng thung lũng từng trũng nước, đất sét dày, mềm, dễ nắn. Người ta nói gốm Quế An sinh ra từ ruộng, và điều đó không sai. Những chiếc nồi, niêu ở đây mang hình dáng giản dị, chắc tay, chịu được lửa lâu như cách người nông dân cần chúng tồn tại.

Cécile đến Quế An khi bàn xoay vẫn còn đó, nhưng người ngồi bên bàn xoay đã ít dần. Một số nghệ nhân lớn tuổi vẫn làm gốm, không vì bán được, mà vì… quen tay. Ở Quế An, cũng như tại Hùng Sơn, từng thao tác làm gốm được ghi lại. Nhưng thứ quan trọng hơn, chính Cécile nói, cô đang ghi lại khoảng trống. Đó là khoảng trống giữa các thế hệ, giữa nhu cầu cũ và đời sống mới. Quế An là lớp gốm đại diện cho sản phẩm của xứ sở nông nghiệp với những sản phẩm bền, chậm, ít đổi thay.

Từ Quế An, Cécile đi xuống hạ lưu sông Thu Bồn, đến Thanh Hà - làng gốm từng gắn với thương cảng Hội An. Nếu Quế An là gốm của ruộng, thì Thanh Hà là gốm của nước và thương thuyền. Những sản phẩm nhỏ, nhẹ, màu sắc tươi, hình dáng bắt mắt. Gốm trở thành quà lưu niệm, thành vật trưng bày. Người thợ trở thành người trình diễn. Du khách đứng quanh bàn xoay, chụp ảnh, quay phim. Gốm từ đời sống đi lên sân khấu.

Nhưng phía sau sự thay hình đổi dạng ấy, Cécile vẫn tìm thấy tri thức cũ trong cách chọn đất ven sông, cách điều chỉnh độ ẩm, cách đọc màu lửa trong lò, cách sửa dáng khi gốm lệch. Những bàn tay mân mê chuốt gốm ở bàn xoay, xung quanh là hàng chục đôi mắt tò mò khiến gốm Thanh Hà mang sắc thái đời sống khác với những làng gốm trăm năm ở xứ Việt. Điều này đi từ sự thích nghi lẫn giao thoa của người làm nghề, để gốm có một vị thế khác trong đời sống hiện đại.

Cécile de Francquen – nhà nhân học, khảo cổ học người Bỉ.

Cécile de Francquen – nhà nhân học, khảo cổ học người Bỉ.

Quế An, Thanh Hà, Ki’nonh chính là ba tầng địa chất của gốm Việt, cũng chính là giá trị của văn minh bản địa của xứ sở nông nghiệp.

Những ngày trước khi rời Ki’nonh, Cécile quay lại nhìn sân làng, nơi gốm vừa được nung xong. Những chiếc nồi còn nóng, khói còn bay như khoảnh khắc mong manh giữa còn và mất. Và Cécile ghi lại điều đó, như chính tinh thần dự án của Bảo tàng Anh mà cô thực hiện, là cứu nguy di sản. Việc đưa hình ảnh, kỹ thuật và câu chuyện của gốm Việt ra thế giới là cách để khẳng định giá trị của nó, khơi dậy niềm tự hào của cộng đồng và hy vọng tìm ra hướng đi mới - có thể là du lịch, là sản phẩm thủ công mỹ nghệ cao cấp, để ngọn lửa nung gốm được rực đỏ trở lại trên các miền quê xứ Quảng.

Gốm xứ Quảng, từ những vùng ven sông như Thanh Hà, chốn chân núi như Quế An cho đến đại ngàn Trường Sơn sâu hun hút, là những “bảo tàng sống” của “đất, nước, lửa, gió” - nơi quá khứ và hiện tại giao hòa trong từng nhịp chày giã đất, đợi người tri âm tìm về.

LÊ QUÂN - HÀ SƯƠNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/hanh-trinh-gom-viet-theo-dau-chan-cecile-3322540.html