Hành trình lịch sử, tâm hồn và khát vọng dân tộc

Thơ ca hiện đại Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, khi dân tộc bước vào những biến động lớn lao của thế kỷ XX: Va đập dữ dội giữa cũ và mới, giữa mất nước và khát vọng độc lập, giữa đau thương và niềm tin hồi sinh.

Tác phẩm “Miền hạnh phúc”. Ảnh minh họa của Nguyễn Bách Thảo

Tác phẩm “Miền hạnh phúc”. Ảnh minh họa của Nguyễn Bách Thảo

Chính trong hoàn cảnh ấy, thơ ca không chỉ là tiếng nói nghệ thuật của cái tôi cá nhân, mà còn trở thành nơi gửi gắm tâm tư thời đại, nơi hội tụ cảm xúc, tư tưởng và vận mệnh dân tộc.

Trải qua hơn một thế kỷ phát triển, thơ ca hiện đại Việt Nam vẫn giữ được sức sống bền bỉ, luôn đổi mới hình thức biểu đạt nhưng không ngừng bám rễ sâu vào truyền thống văn hóa, lịch sử và tâm hồn dân tộc.

Trong mạch nguồn chung ấy, hình tượng mùa Xuân nổi lên như một cảm hứng xuyên suốt, mang vẻ đẹp phong phú của tự nhiên, đồng thời gắn bó chặt chẽ với truyền thống yêu nước và khát vọng sống của con người Việt Nam.

Mùa Xuân không chỉ là thời khắc giao hòa của đất trời, của cỏ cây đâm chồi nảy lộc, nó còn là biểu tượng của sự khởi đầu, hy vọng và niềm tin vào tương lai. Với dân tộc Việt Nam, mùa Xuân còn gắn liền với những bước ngoặt lịch sử, những cuộc đổi thay lớn lao của đất nước, từ mùa Xuân giành độc lập đến mùa Xuân kiến thiết và dựng xây. Trên cơ sở ấy, thế hệ các nhà thơ hiện đại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay đã làm nên một diện mạo thơ Việt đặc sắc khi phác họa hình tượng mùa Xuân đất trời hòa cùng mùa Xuân ấm no, hạnh phúc của mùa Xuân đất nước.

Qua mỗi chặng đường lịch sử, mùa Xuân trong thơ không ngừng được làm mới, mang theo dấu ấn của thời đại, của tâm hồn nghệ sĩ và khát vọng dân tộc.

Nhuốm màu tâm trạng cá nhân

Từ đầu thế kỷ XX, khi xã hội Việt Nam bắt đầu có những chuyển động mạnh mẽ, hình tượng mùa Xuân đã xuất hiện trong sáng tác của nhiều thi sĩ lớn như Tản Đà, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng… với những vẻ đẹp tráng lệ, đồng thời cũng phảng phất nỗi niềm của người dân mất nước.

Mùa Xuân trong thơ giai đoạn này vẫn mang dáng dấp truyền thống của thi ca trung đại, nhưng đã bắt đầu nhuốm màu tâm trạng cá nhân và ý thức dân tộc. Nếu ở Tản Đà, mùa Xuân vừa phóng khoáng, tài tử, vừa ẩn chứa nỗi buồn thời thế, cảnh xuân đẹp nhưng lòng người không yên, bởi phía sau sắc xuân vẫn là nỗi đau mất nước; thì đến Phan Bội Châu, dù đang bị thực dân Pháp giam cầm, nhưng qua “Bài ca chúc Tết thanh niên”, ông đã mở ra một mùa Xuân thanh tân và tràn đầy hi vọng:

“Dậy! Dậy! Dậy!

Bên án một tiếng gà vừa gáy

Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng

Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?

… Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội

Ghé vai vào xốc vác cựu giang sơn”.

Trong những vần thơ yêu nước đầu thế kỷ, mùa Xuân thường gắn với hình ảnh thức tỉnh dân trí, khơi dậy tinh thần đấu tranh, như một lời nhắn gửi về ngày mai đổi mới.

Với phong trào Thơ mới (1932 - 1945), hình tượng mùa Xuân được khai thác với chiều sâu cảm xúc cá nhân và bút pháp nghệ thuật tinh tế nhất. Các nhà thơ như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính… đã để lại những áng thơ xuân đặc sắc, mỗi người một vẻ. Với Xuân Diệu, mùa Xuân là biểu tượng của tuổi trẻ, tình yêu và khát vọng sống mãnh liệt. Trong thi phẩm “Vội vàng”, nhà thơ bộc lộ niềm say mê trước mùa Xuân trần thế trong tiếng hoan ca giục giã:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến oanh này đây khúc tình si”.

Mùa Xuân trong thơ Xuân Diệu đẹp rực rỡ nhưng mong manh, khiến con người vừa say đắm vừa lo âu trước bước đi của thời gian vội vã. Bên cạnh đó, Hàn Mặc Tử lại mang đến một mùa Xuân vừa trong trẻo vừa đau đớn, nơi cái đẹp hòa lẫn với số phận bi kịch nên mang đậm dấu ấn siêu thực: “Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sự/ Tôi đều nhận thấy trên môi em/ Làn môi mong mỏng tươi như máu/ Đã khiến môi tôi mấp máy thèm” (Gái quê).

Đến Nguyễn Bính, với hồn thơ chân quê, ông đã khắc họa mùa Xuân nơi làng quê Bắc Bộ mộc mạc, trữ tình và gắn với phong tục, lễ tết, đồng thời cũng thấm đẫm nỗi buồn thầm lặng của phận người con gái: “Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay/Hoa xoan đã nát dưới chân giày/Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ/Mẹ bảo mùa Xuân đã cạn ngày” (Mưa xuân). Mùa Xuân trong Thơ mới vì thế là mùa Xuân của cái tôi cá nhân, của khát vọng yêu thương và cảm thức nhân sinh sâu sắc.

Hình tượng mùa Xuân trong thơ hiện đại Việt Nam phản ánh sâu sắc hành trình lịch sử, tâm hồn và khát vọng của dân tộc. Ảnh minh họa: ITN.

Hình tượng mùa Xuân trong thơ hiện đại Việt Nam phản ánh sâu sắc hành trình lịch sử, tâm hồn và khát vọng của dân tộc. Ảnh minh họa: ITN.

Gắn liền với vận mệnh Tổ quốc

Đến thời đại của Cách mạng Tháng Tám 1945, hình tượng mùa Xuân trong thơ Việt Nam càng thêm rực rỡ, hào hùng, trở thành biểu tượng gắn liền với vận mệnh Tổ quốc và sự sống còn của dân tộc.

Trong thơ Hồ Chí Minh, mùa Xuân mang vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại, thể hiện tư thế ung dung, lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Bài thơ “Nguyên tiêu” (Rằm tháng Giêng) được viết năm 1948 đã mở ra bức tranh xuân nơi chiến khu Việt Bắc thật nên thơ qua cái nhìn tự tại của Bác với tư thế là lãnh tụ đang cầm lái con thuyền cách mạng. Đó là bức tranh mùa Xuân của niềm tin chiến thắng và hi vọng tràn đầy, dù cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn khởi đầu khó khăn, gian khổ nhất:

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.

(Bản dịch của Xuân Thủy)

Đặc biệt trong thơ Tố Hữu, mùa Xuân gắn liền với Đảng, với cách mạng và con đường đi lên “hạnh phúc rộng thênh thênh” của Tổ quốc. Tác phẩm “Bài ca mùa Xuân 1961” vang lên như khúc ca lạc quan, tin tưởng, tự hào nhất vào tương lai đất nước giữa những năm tháng vừa đấu tranh thống nhất Tổ quốc, vừa xây dựng cuộc sống mới trên miền Bắc:

“Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng

Ta đứng đây, mắt nhìn bốn hướng

Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau

Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu”.

Sau năm 1975, khi Tổ quốc thống nhất hai miền Nam Bắc, với “Mùa Xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, hình ảnh mùa Xuân trở thành biểu tượng của sự cống hiến thầm lặng, của khát vọng được hòa mình vào mùa Xuân rộng lớn của đất nước. Từ đó, mùa Xuân trong thơ Cách mạng vừa mang tầm vóc sử thi, vừa thấm đẫm chất trữ tình nhân văn sâu sắc:

“Một mùa Xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc…”.

Cảm xúc cá nhân hòa tan trong nhịp điệu cộng đồng

Đến nay, mùa Xuân trong thơ ca vừa rợp bóng bao trùm trên thi đàn dân tộc, vừa tự mình rẽ thành nhiều dòng chảy, tỏa lan qua những vùng miền khác nhau của đất nước. Có sắc xuân trầm lắng, lãng mạn và nên thơ của miền Bắc; có dáng xuân hiền hòa và không kém phần dào dạt như sóng biển miền Trung; và cũng có bóng dáng mùa Xuân hùng tráng, huyền ảo hòa trong nhịp cồng chiêng của núi rừng Tây Nguyên huyền thoại, đêm đêm vọng vang bên bếp lửa nhà sàn.

Thơ của Hữu Chỉnh, Đặng Bá Tiến, Phạm Doanh, Bùi Minh Vũ, Nguyễn Duy Xuân, Tạ Văn Sỹ, Ngô Thanh Vân, Trần Phố… đã góp thêm những sắc thái riêng cho hình tượng mùa Xuân gắn với núi rừng và đời sống cộng đồng các dân tộc ở chiều sâu văn hóa bản địa. Những vần thơ ấy vẫn vọng âm, bồi hồi mỗi khi Tết đến xuân về, làm giàu thêm bản đồ cảm hứng xuân trong thơ ca nước Việt. Ta hãy đọc một đoạn thơ trong “Nét xuân Tây Nguyên” của Đặng Bá Tiến để lắng hồn mình đón nhận vẻ đẹp giao mùa của buôn làng vào lúc xuân sang:

“Lúa, cà phê đã êm giấc trên sàn

ngô đã nằm đầy gian ba gian bảy

thì ay-ray cứ thỏa lòng luyến láy

thì tay ấp tay người mà mê đắm nhịp xoang”.

Trong khi đó, thơ Bùi Minh Vũ lại nghiêng nhiều về mùa Xuân của nội tâm và suy tư, nơi thiên nhiên và con người soi chiếu vào nhau. Mùa Xuân trong thơ ông thường không ồn ào, mà lắng sâu, gợi cảm giác hồi tưởng, chiêm nghiệm. Có những câu thơ xuân gắn với ký ức về đất đỏ, về rừng cà phê, về những buổi sáng cao nguyên se lạnh, nơi con người nhận ra giá trị của sự gắn bó, của niềm tin và hy vọng sau những gian truân: “Mưa trôi mặt trời/Không trôi giọt mồ hôi mẹ/Mưa trôi giấc mơ cất trên chòi lúa/Nảy mầm dọc suối mùa Xuân” (Mùa Xuân). Thật vậy, “Sự nảy mầm” đã là một thông điệp của tương lai và hi vọng nồng nàn.

Đặc biệt, với nhà thơ Hữu Chỉnh, mùa Xuân nơi đại ngàn Tây Nguyên là mùa Xuân của “hạnh phúc bắc cầu”. Với ông, cái nhìn nồng nàn, yêu thương và trìu mến trước mỗi lễ hội, mỗi tiếng chiêng ngân và hình tượng con người đều mang lại cảm xúc đắm say và rạo rực, khiến người đọc như trôi vào niềm mê đắm miên man:

“Phập phồng núm chiêng giấu ngực

Thả vào lễ hội mùa Xuân

Em gái Tây Nguyên rạo rực

Trôi theo tiếng hát trong ngần…

Men lá cũng say cho rượu cần chếnh choáng

Mắt đa tình lúng liếng trao nhau

Lời hò hẹn được thần linh chứng giám

Lễ hội mùa Xuân – hạnh phúc bắc cầu”.

(Hạnh phúc bắc cầu)

Hữu Chỉnh không chỉ tái hiện một bức tranh lễ hội mùa Xuân Tây Nguyên giàu màu sắc cảm giác, mà còn kiến tạo nên một không gian biểu tượng nơi hạnh phúc được hình dung như một sự “bắc cầu” giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng và giữa đời sống trần thế với thế giới tâm linh. Những hình ảnh mang tính tạo hình mạnh như “núm chiêng giấu ngực”, “men lá”, “rượu cần”, “mắt đa tình lúng liếng” không đơn thuần là chi tiết miêu tả phong tục, mà là những mã văn hóa đặc trưng của đời sống Tây Nguyên, nơi cảm xúc cá nhân luôn hòa tan trong nhịp điệu cộng đồng. Mùa Xuân ở đây không còn là thời điểm của tự nhiên, mà trở thành khoảnh khắc hội tụ của sự sống, của khát vọng yêu thương và niềm vui tồn sinh mang tính nguyên sơ, bản thể.

Có thể khẳng định rằng, hình tượng mùa Xuân trong thơ hiện đại Việt Nam là một hình tượng nghệ thuật giàu sức sống, phản ánh sâu sắc hành trình lịch sử, tâm hồn và khát vọng của dân tộc. Từ mùa Xuân giao thời đầu thế kỷ XX, mùa Xuân lãng mạn của Thơ mới, đến mùa Xuân cách mạng và mùa Xuân qua những vùng miền đất nước, mỗi sắc xuân đều góp phần tạo nên một diện mạo thơ Việt phong phú, đa thanh mà thống nhất.
Qua hình tượng mùa Xuân, thơ ca hiện đại Việt Nam đã gửi gắm niềm tin bền bỉ vào con người, vào đất nước và tương lai, để mùa Xuân không chỉ là mùa của đất trời, mà còn là nhịp mùa vĩnh cửu trong tâm hồn dân tộc.

Lê Thành Văn (Giáo viên Trung tâm GDTX - GDNN Buôn Hồ, Đắk Lắk)

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/hanh-trinh-lich-su-tam-hon-va-khat-vong-dan-toc-post770466.html