Hệ thống cảnh báo gian lận ngăn chặn 7.600 tỷ đồng có nguy cơ bị lừa đảo

Ngân hàng Nhà nước triển khai Hệ thống cảnh báo gian lận trong thanh toán đã giúp hơn 2 triệu lượt khách hàng tạm dừng hoặc hủy giao dịch có nguy cơ rủi ro, với tổng giá trị giao dịch tương ứng hơn 7.600 tỷ đồng.

Khi thanh toán số ngày càng phổ biến, yêu cầu đặt ra là phát hiện dấu hiệu bất thường sớm hơn, ngăn dòng tiền bị chiếm đoạt ngay trong quá trình giao dịch.

Hệ thống cảnh báo gian lận ngăn chặn 7.600 tỷ đồng có nguy cơ bị lừa đảo. Ảnh minh họa

Hệ thống cảnh báo gian lận ngăn chặn 7.600 tỷ đồng có nguy cơ bị lừa đảo. Ảnh minh họa

Hơn 2 triệu lượt khách hàng dừng giao dịch sau cảnh báo gian lận

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, từ ngày 1-4-2026, khi triển khai dịch vụ truy vấn trạng thái tài khoản thanh toán, ví điện tử, đến hết ngày 20-10-2026, Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) đã cảnh báo hơn 6 triệu lượt khách hàng. Trong số này, hơn 2 triệu lượt khách hàng đã tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch tương ứng hơn 7.600 tỷ đồng.

Số liệu trên được ông Lê Anh Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nêu tại Hội thảo Chuyên đề “Ngân hàng số đáng tin cậy: Thúc đẩy đổi mới thanh toán và tăng cường phòng chống gian lận” diễn ra chiều 22-10 tại Hà Nội cho thấy vai trò của cơ chế cảnh báo trong việc hỗ trợ khách hàng nhận diện và chủ động phòng ngừa rủi ro khi giao dịch trên môi trường số.

Việc cảnh báo không chỉ có ý nghĩa sau khi phát sinh sự cố mà còn tạo cơ hội để khách hàng dừng lại, kiểm tra thông tin và cân nhắc trước khi tiền được chuyển đi. Trong các vụ lừa đảo tài chính, khi khách hàng bị dẫn dụ bởi những kịch bản tinh vi, thao túng tâm lý hoặc giả mạo danh tính, khả năng nhận diện rủi ro kịp thời có thể quyết định việc dòng tiền có bị chuyển đến tài khoản của đối tượng lừa đảo hay không.

Thực tế này đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các tổ chức tín dụng, đơn vị trung gian thanh toán và hệ thống cảnh báo dùng chung. Nếu mỗi ngân hàng chỉ dựa vào dữ liệu nội bộ để đánh giá giao dịch, việc nhận diện các dấu hiệu bất thường liên quan đến tài khoản nhận tiền tại tổ chức khác sẽ gặp những hạn chế nhất định.

Bởi vậy, phòng ngừa gian lận cần được thực hiện xuyên suốt quá trình thanh toán, từ khâu xác minh danh tính, đánh giá dấu hiệu bất thường đến cảnh báo và xử lý giao dịch có nguy cơ cao. Quan trọng hơn, thông tin cảnh báo phải đến với khách hàng đúng thời điểm, đủ rõ ràng để họ hiểu rủi ro và có phương án xử lý phù hợp.

Cùng với sự phát triển của thanh toán số, khối lượng giao dịch lớn và tốc độ xử lý ngày càng nhanh đang tạo thêm áp lực đối với công tác kiểm soát rủi ro. Quy mô giao dịch gia tăng đồng nghĩa với việc các hệ thống thanh toán phải xử lý lượng dữ liệu lớn hơn, trong khi vẫn bảo đảm tốc độ, tính liên tục và an toàn.

Các hành vi gian lận cũng không nhất thiết xuất hiện ở khâu đăng nhập hay mở tài khoản, mà có thể diễn ra ngay khi khách hàng thực hiện một giao dịch hợp lệ về mặt kỹ thuật nhưng bị đối tượng khác lừa đảo, thao túng hoặc hướng dẫn chuyển tiền.

Điều này cho thấy xác thực đúng danh tính người dùng chưa đủ để bảo đảm giao dịch an toàn. Một khách hàng có thể sử dụng đúng tài khoản, thiết bị và phương thức xác thực của mình nhưng vẫn chuyển tiền theo yêu cầu của kẻ lừa đảo. Vì vậy, hệ thống kiểm soát cần đánh giá thêm bối cảnh giao dịch, lịch sử hoạt động, thông tin người thụ hưởng và những dấu hiệu bất thường liên quan.

Một rủi ro đáng chú ý khác là việc sử dụng tài khoản trung gian để tiếp nhận, luân chuyển và phân tán tiền. Tài khoản có thể hoạt động bình thường trong một thời gian trước khi phát sinh những giao dịch bất thường. Nếu chỉ xem xét từng lệnh chuyển tiền riêng lẻ, ngân hàng có thể khó nhận diện mối liên hệ giữa các giao dịch hoặc phát hiện sớm dòng tiền có dấu hiệu đáng ngờ.

Do đó, hướng kiểm soát cần chuyển từ việc chỉ đối chiếu giao dịch với các quy tắc cố định sang đánh giá tổng hợp nhiều yếu tố. Những giao dịch có dấu hiệu rủi ro cần được phân loại để áp dụng biện pháp phù hợp, từ cảnh báo khách hàng, yêu cầu xác minh bổ sung đến tạm dừng xử lý khi có căn cứ và theo quy định hiện hành. Cách tiếp cận này cũng đòi hỏi tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin cảnh báo giữa các tổ chức trong hệ sinh thái thanh toán, qua đó hỗ trợ nhận diện sớm những dấu hiệu rủi ro có liên quan nhưng xuất hiện ở nhiều hệ thống khác nhau.

Giao dịch an toàn là yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển ngân hàng số. Ảnh: Techcombank

Giao dịch an toàn là yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển ngân hàng số. Ảnh: Techcombank

Củng cố nhiều lớp bảo vệ

Bên cạnh cơ chế cảnh báo, dữ liệu định danh và xác thực khách hàng tiếp tục là một nền tảng quan trọng để nâng cao an toàn giao dịch. Tính đến hết ngày 16-10-2026, toàn ngành ngân hàng đã có hơn 176,9 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chip hoặc ứng dụng VNeID.

Việc đối chiếu thông tin góp phần nâng cao độ tin cậy trong xác minh danh tính, hỗ trợ phòng ngừa tình trạng sử dụng giấy tờ giả hoặc thông tin không chính chủ. Tuy nhiên, xác thực danh tính chỉ là một lớp bảo vệ. Khi tội phạm sử dụng công nghệ để giả mạo hình ảnh, giọng nói hoặc tìm cách thao túng chính chủ tài khoản, các biện pháp bảo mật vẫn cần được kết hợp với giám sát giao dịch và cơ chế cảnh báo chủ động.

Theo Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, từ ngày 1-7-2026, theo quy định tại Thông tư 77/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư 50 /2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về an toàn, bảo mật dịch vụ trực tuyến, giải pháp sinh trắc học còn phải đáp ứng yêu cầu phát hiện tấn công giả mạo sâu. Quy định này cho thấy yêu cầu bảo mật không dừng ở việc thu thập dữ liệu sinh trắc học mà còn phải nâng cao khả năng nhận diện các phương thức giả mạo ngày càng tinh vi.

Ở cấp độ hạ tầng, nền tảng thanh toán tức thời do Napas quản lý, vận hành liên tục 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần và 365 ngày mỗi năm, hiện xử lý trung bình khoảng 40 triệu giao dịch thanh toán, chuyển tiền mỗi ngày. Trong 9 tháng đầu năm 2026, hệ thống xử lý tổng cộng 11 tỷ giao dịch, với tỷ lệ hoạt động liên tục đạt 99,997%.

Quy mô và tính liên tục của hệ thống thanh toán cho thấy yêu cầu bảo đảm an toàn phải song hành với khả năng xử lý nhanh chóng, ổn định. Các biện pháp kiểm soát vì thế cần được thiết kế để phát hiện và xử lý rủi ro kịp thời mà không gây gián đoạn không cần thiết đối với những giao dịch hợp lệ.

Về phía các ngân hàng, việc đầu tư công nghệ cần đi cùng hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, phân định rõ trách nhiệm xử lý cảnh báo và tăng cường năng lực ứng phó sự cố. Khi phát hiện giao dịch có dấu hiệu bất thường, hệ thống phải có khả năng chuyển cảnh báo đến đúng bộ phận, hỗ trợ xác minh và đưa ra biện pháp xử lý tương ứng với mức độ rủi ro.

Với khách hàng, bên cạnh các lớp bảo vệ từ ngân hàng, việc chủ động kiểm tra thông tin người nhận, thận trọng trước yêu cầu chuyển tiền bất thường và không cung cấp thông tin xác thực cho người khác vẫn rất cần thiết.

Trong bối cảnh thanh toán số tiếp tục tăng trưởng, phòng, chống gian lận không thể chỉ trông chờ vào một công nghệ hay một biện pháp riêng lẻ. Hiệu quả bảo vệ tài sản phụ thuộc vào sự kết hợp giữa dữ liệu định danh đáng tin cậy, hệ thống cảnh báo, khả năng giám sát giao dịch và sự phối hợp giữa các tổ chức liên quan.

Phương Thu

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/he-thong-canh-bao-gian-lan-ngan-chan-7-600-ty-dong-co-nguy-co-bi-lua-dao-1762359.html