Hiền Lương-Bến Hải, văn chương đi cùng năm tháng

Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải đã trở thành một biểu tượng của khát vọng hòa bình, thống nhất. Nhắc đến địa danh lịch sử ấy, hầu như ai cũng ít nhiều thuộc vài câu thơ, khúc hát về một thời Bắc Nam còn đôi bờ chia cắt. Sau nửa thế kỷ non sông liền một dải, những tác phẩm văn chương về vĩ tuyến 17 vẫn còn được đọc, in đậm trong tâm khảm các thế hệ. Điều đó không chỉ khẳng định sức sống của văn học nghệ thuật, mà còn thể hiện tình cảm của mọi người dành cho mảnh đất Quảng Trị.

Nhà văn Nguyễn Tuân, người vốn có sở thích xê dịch, đã không thể không đến với vĩ tuyến 17. Ở đây, ông viết trên dưới mười bút ký, trong đó có những tác phẩm thể hiện khả năng quan sát tinh tế. Ông gọi Hiền Lương là cây "cầu ma", "cầu giả vờ", ngụ ý cây cầu này không còn chức năng lưu không, không thể tự do qua lại.

Nguyễn Tuân cũng làm một việc tưởng chừng đơn giản nhưng không phải ai cũng dám liều mình làm được, đó là đếm số ván trên cầu, ông viết: "Cầu Hiền Lương bắc vào năm 1950. Có bảy nhịp khớp vào nhau. Sắt cầu của Anh “Made in England”, ván cầu Mỹ “US-Vigira”, nhân công cầu là đám công binh trong quân đội viễn chinh Pháp cộng với số nhân lực PMT… Cầu có bảy nhịp, cộng lại chỉ có 178 mét và ván cầu tổng cộng chỉ có 894 miếng ván. Chiều dài cầu, miền Bắc, miền Nam mỗi bên giữ 89 thước, nhưng ván cầu thì 450 tấm thuộc về Bắc và như thế ta hơn mấy tấm (Cầu ma)".

Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải đã trở thành một biểu tượng của khát vọng hòa bình, thống nhất - Ảnh: CTV

Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải đã trở thành một biểu tượng của khát vọng hòa bình, thống nhất - Ảnh: CTV

Chỉ qua một đoạn văn trên, ta có thể biết được lịch sử, kiến trúc, quá trình thi công của cây cầu bắc qua giới tuyến. Nhưng hơn thế, nhà văn đã cho thấy một tinh thần "hơn thua" của chúng ta, thông qua số lượng tấm ván phía miền Bắc nhiều hơn phía miền Nam… 6 tấm.

Nhà văn Xuân Đức có rất nhiều tác phẩm về quê nhà Quảng Trị, trong đó có những tiểu thuyết nổi tiếng, được bạn đọc yêu mến. "Bến đò xưa lặng lẽ" là tiểu thuyết viết về cuộc chiến đấu chống Pháp, Mỹ và những ngày đầu thống nhất đất nước của những lớp người ở hai bên bờ Hiền Lương-Bến Hải. Những cuộc chiến đấu gan dạ, anh dũng, khốc liệt nhưng cũng lắm gian nan, hy sinh; những ngang trái cõi người phải vật lộn đấu tranh giữa bản năng và ý thức…

Trong tiểu thuyết này, sông Bến Hải hiện lên theo những thăng trầm lịch sử, thành mạch kể chuyện xuyên suốt. Đọc tiểu thuyết có thể tưởng tượng ra cảnh sắc, không gian của những làng quê và cuộc sống con người ven dòng sông một thời: "… rồi cuộc sống cứ trôi đi như dòng nước Bến Hải chốn thượng nguồn ấy, cứ lao mình ra cửa biển, lúc nào cũng ngăn ngắt xanh, lúc nào cũng róc rách trong trẻo, mặc kệ trước mặt là giới tuyến, là bên trong bên đục, là bên lở bên bồi".

Một cây bút ký tài hoa người Quảng Trị là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nhìn sông Bến Hải bằng một niềm cảm khái ngất ngây của giờ phút Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Trong bút ký "Hành lang của người và gió", có đoạn: "Chỉ cần qua một quãng đêm yên tĩnh này nữa, chiến tranh Việt Nam sẽ kết thúc. Tôi đứng một mình trên bờ nam sông Bến Hải, kính cẩn chờ giây phút mà toàn thế giới sẽ trả lại bờ thứ hai cho dòng sông bị vỡ đôi này của đất nước tôi. Chưa bao giờ lịch sử lại căng đầy trong tôi một niềm cảm khái trầm hùng đến như vậy, quanh những trụ bê tông của một cây cầu đã gãy. Đất nước hai lần gian lao đã in dấu trên trụ cầu bằng bao nhiêu lớp vỏ hàu nham nhở, giống như vết bùn lấm nhọc nhằn chân ngựa đá mà vua Trần đã nhìn thấy ngày đuổi giặc khỏi Thăng Long hơn bảy trăm năm trước. Tôi cũng là người lính Việt, chân đất nón dấu, cầm lấy ngọn giáo của Nhân dân, đêm nay về quỳ hôn lên chân ngựa đá".

Khát vọng thanh bình cho quê hương luôn rạo rực trong tâm hồn những người nghệ sĩ lúc bấy giờ. Miền đất Quảng Trị đã thôi thúc biết bao nhà văn, nhà thơ lên đường vào tuyến lửa thực tế sáng tác. Có biết bao tác phẩm của những nhà thơ tên tuổi lẫy lừng trên văn đàn đã dành cho Hiền Lương-Bến Hải.

"Một dòng sông như dòng lệ chia hai/Một chiếc cầu như hàm răng nghiến chặt/Sương sương rơi dày đặc/Che kín cả mắt nhìn/Như hàng thông/Tôi lặng đứng im/Bàn chân không thể bước/Tôi hỏi gió hỏi mây hỏi cây hỏi nước/Quê hương ta một nửa đâu rồi?". Khổ thơ này trong bài thơ "Sương mù bên kia sông Bến Hải" viết năm 1960 của Hoàng Trung Thông. Nhà thơ đã đứng bên bờ bắc nhìn về phía nam với niềm thương cảm ngậm ngùi. Cái làn sương mù vừa là một hình ảnh có thật, vừa hư ảo, vừa hàm ẩn miền Nam vẫn đang chìm trong mịt mùng bom đạn. Nhưng rồi, nhà thơ cũng đã tràn đầy niềm tin, khi nhìn thấy ngọn lửa cách mạng bừng cháy bên kia: "Một dòng sông, một chiếc cầu/Như dòng lệ như hàm răng nghiến chặt/Sương sương rơi trên miền Nam dày đặc/Nhưng sau kia/lửa lửa/cháy lên rồi!”.

Hình ảnh ngọn lửa và ngọn gươm trong bài thơ "Ba mươi năm đời ta có Đảng" của nhà thơ Tố Hữu lại nói về ý chí bất khuất của dòng sông, ngọn núi nơi này: "Đường giải phóng mới đi một nửa/Nửa mình còn trong lửa nước sôi/Một thân không thể chia đôi/Lửa gươm không thể cắt rời núi sông/Gươm nào chém được dòng Bến Hải?/Lửa nào thiêu được dải Trường Sơn?".

Năm 1959, chỉ mới qua 4 năm Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, nhưng Tế Hanh cũng đã kịp đến đây hai lần. Nhà thơ đã nhân cách hóa dòng sông, từ đó mà có một cuộc "Nói chuyện với sông Hiền Lương" thú vị. Đây là đoạn mà dòng sông tâm tình: "Nhà thơ ơi!/Lần thứ hai anh đến/Bốn năm qua/Như lúc gặp ban đầu/Tôi chảy ngày đêm không nghỉ/Hai bờ Nam Bắc nhìn đau/Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/Tận chân trời mây núi có chia đâu".

Chế Lan Viên, người con quê hương Quảng Trị, một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ Mới, thơ của ông là sự kết hợp của chất tài hoa uyên bác, cùng những chiêm nghiệm triết học. Khi nhìn về con sông quê nhà, cảm thức triết mỹ ấy càng được khơi dậy: "Sông Ngân Hà tình yêu cháy rực hai bờ ai cũng thấy/Anh và em chưa đến đấy bao giờ/Ly biệt đoàn viên ngày nay là giữa đất bùn và bom đạn/Mỗi con sông đôi lứa ngày nay đều chia cách đôi bờ" (trích từ Hai bờ Bến Hải).

Chỉ mấy ngày sau khi đất nước thống nhất, Chế Lan Viên lại viết về con sông chia cắt ấy như một cuộc hồi sinh ngoạn mục: "Ngoặt một cái ta lành nghìn vết thương Bến Hải/Cả Tổ quốc Hùng Vương liền một dải/Ngoảnh mặt nhìn đâu cũng thấy anh em/Ngoặt một cái sạch hết bùn, chỉ có hoa sen" (trích từ Hái theo mùa, tháng 5/1975).

Đó là khi khúc khải hoàn ca thống nhất vang lên, niềm vui chan hòa trong nước mắt trùng phùng. Và tình yêu đôi lứa đã được bắc qua nhịp "cầu giả vờ" này, như cách nói của Nguyễn Tuân. Từ đây, chiếc cầu đã là nơi hò hẹn, là nơi kết duyên, nơi dẫn bước lứa đôi về một nhà.

"Một buổi mai nắng vàng hoa ngâu/Đám đưa dâu qua cầu Bến Hải/Cầu vừa bắc xong sơn còn tươi rói/Đôi bờ xanh lúa mới đã ngậm đòng/Nhìn hai họ qua cầu mà nước mắt rưng rưng/Mà sung sướng vui tràn như trẻ nhỏ/Chàng trai Vĩnh Linh cưới cô gái đất Cùa-Cam Lộ/Sông tưng bừng nhìn đôi lứa thương nhau…" (trích từ Đưa dâu qua cầu Bến Hải, Cảnh Trà).

Sau hơn hai thập kỷ chỉ có nhớ thương cách trở, cầu Hiền Lương hôm nay đã có một đám cưới đi qua, không xúc động sao được. Hòa bình mang đến tình yêu trọn vẹn và hạnh phúc được kế tục bằng những thế hệ sinh ra sau chiến tranh. Trong "Trường ca sư đoàn" viết năm 1980, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã viết: "Hòa bình về trên mái tóc người cha/Và tiếng khóc oa oa thơ bé/Người lửa cháy suốt thời trai trẻ/Kẻ chào đời tiếng súng đã lặng câm/Hai lứa tuổi cách nhau một nhịp cầu Bến Hải/Một cuộc hành quân nắng dãi mưa dầm".

Một thi tứ thật bất ngờ khi nhà thơ nhìn thấy sự nối tiếp thế hệ giống như chuyển tiếp một nhịp cầu. Mà không phải cây cầu nào khác, đó chỉ có thể là cầu Hiền Lương. Vì sao ư? Vì để có thể bước qua một tấm ván giữa cầu, chỉ một nhịp ở vạch ngăn cách ấy thôi, mà cả thế hệ phải đổ máu mồ hôi, những mái tóc xanh phải hóa bạc.

Hoàng Công Danh

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/van-hoa/202607/hien-luong-ben-hai-van-chuong-di-cung-nam-thang-d085db0/