Hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng phải được đo bằng thiệt hại được giải quyết thực chất
Thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) cho rằng, với tranh chấp trên nền tảng số, khi người mua, người bán và đơn vị vận hành nền tảng thường ở các địa phương khác nhau, do đó cần quy định rõ cơ quan chủ trì, trách nhiệm chuyển hồ sơ và cơ chế phối hợp giữa cấp xã, cấp tỉnh để tránh đùn đẩy, kéo dài. Hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng phải được đo bằng thiệt hại được giải quyết thực chất, không phải bằng số thủ tục hay số đầu mối đã được phân cấp.
Bãi bỏ quy định về hợp đồng thương mại không chỉ là vấn đề kỹ thuật lập pháp
Góp ý về dự thảo luật, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung 4 luật nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện môi trường cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế số. Đồng thời, ghi nhận cơ quan soạn thảo đã nghiêm túc nghiên cứu, dự kiến tiếp thu, chỉnh lý 142 trên tổng số 204 ý kiến của đại biểu Quốc hội sau phiên thảo luận ở Tổ.
“Đây là những đạo luật tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư, kinh doanh. Thước đo không phải là cắt giảm được bao nhiêu thủ tục hay phân cấp thêm bao nhiêu nhiệm vụ, mà là các quy định sửa đổi có thực sự giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm an toàn pháp lý và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh hay không”, đại biểu nhấn mạnh.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) phát biểu tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy
Về việc bãi bỏ các quy định về hợp đồng và chế tài thương mại tại khoản 11 Điều 1 dự thảo Luật, đại biểu đồng tình với mục tiêu khắc phục trùng lặp, mâu thuẫn giữa Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự. Tuy vậy, theo đại biểu, bãi bỏ đồng loạt các quy định về hợp đồng và toàn bộ Chương VII Luật Thương mại không đơn thuần là xử lý kỹ thuật lập pháp, mà làm thay đổi cơ chế phân bổ quyền, nghĩa vụ và rủi ro giữa các bên trong giao dịch thương mại.
Đại biểu dẫn chứng, Điều 301 Luật Thương mại giới hạn mức phạt vi phạm hợp đồng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, còn Bộ luật Dân sự tôn trọng thỏa thuận của các bên, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
“Bỏ giới hạn này mở rộng tự do thỏa thuận, nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa - vốn yếu thế khi đàm phán với đối tác lớn trong chuỗi cung ứng có thể phải chấp nhận mức phạt bất lợi. Các quy định về tạm ngừng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng cũng đã được áp dụng tương đối ổn định; bãi bỏ khi chưa xác định đầy đủ quy phạm thay thế sẽ làm tăng chi phí giao dịch và rủi ro tranh chấp”, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn phân tích.
Dự thảo đã lùi thời điểm có hiệu lực của một số quy định bãi bỏ sang ngày 1/1/2028 và bổ sung điều khoản chuyển tiếp tại Điều 6. Đại biểu cho rằng việc này mới giải quyết vấn đề thời gian, chưa trả lời được câu hỏi: những quy định đặc thù của hợp đồng thương mại có thực sự không còn cần thiết?
Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát từng chế định, chỉ bãi bỏ những nội dung thực sự trùng lặp; trình kèm bảng đối chiếu quy định bị bãi bỏ với quy phạm thay thế và đánh giá tác động đến quyền, nghĩa vụ, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.
“Thống nhất pháp luật phải làm tăng khả năng dự báo của môi trường kinh doanh, không được tạo khoảng trống pháp lý hoặc chuyển rủi ro sang phía doanh nghiệp”, đại biểu nêu rõ.
Không chỉ dựa vào thị phần để đánh giá sức mạnh thị trường số
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng đánh giá cao việc dự thảo bổ sung phương pháp xác định thị phần dựa trên giao dịch số và các tiêu chí mới về sức mạnh thị trường như dữ liệu, hiệu ứng mạng lưới, chi phí chuyển đổi, khả năng kiểm soát việc tiếp cận thị trường.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội Khoá XVI. Ảnh: Khánh Duy
Tuy nhiên, theo đại biểu, khoản 9 Điều 2 dự thảo sửa đổi Điều 24 Luật Cạnh tranh quy định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh khi có thị phần từ 30% trở lên, hoặc có thị phần từ 10% trở lên và có sức mạnh thị trường đáng kể. Đại biểu cho rằng, việc đặt ngưỡng 10% làm điều kiện bắt buộc chưa thật nhất quán với chính logic của dự thảo, bởi Điều 26 sửa đổi đã thừa nhận dữ liệu, hiệu ứng mạng và khả năng kiểm soát tiếp cận thị trường là căn cứ xác định sức mạnh thị trường đáng kể.
“Trong kinh tế số, một doanh nghiệp thị phần chưa lớn vẫn có thể kiểm soát dữ liệu quan trọng, hạ tầng thiết yếu hoặc kênh tiếp cận khách hàng. Ngưỡng cứng có nguy cơ bỏ lọt chính những trường hợp này”, đại biểu phân tích.
Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế ngoại lệ đối với doanh nghiệp có thị phần dưới 10% nhưng có bằng chứng rõ ràng về khả năng chi phối đáng kể thị trường. Đồng thời, cần quy định chặt chẽ trách nhiệm chứng minh để tránh can thiệp tùy tiện, không cản trở đổi mới sáng tạo.
Đối với quy định xác định thị phần tại Điều 10, đại biểu đề nghị phân biệt rõ tổng giá trị hàng hóa giao dịch qua nền tảng với doanh thu thực tế của doanh nghiệp vận hành nền tảng; loại trừ giao dịch trùng lặp, giao dịch giả tạo để xác định đúng bản chất thị trường.
“Pháp luật cạnh tranh không chỉ xử lý độc quyền đã hình thành, mà phải nhận diện và phòng ngừa được việc lạm dụng sức mạnh thị trường trong các mô hình kinh doanh mới”, đại biểu khẳng định.
Kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch, an toàn, cạnh tranh lành mạnh
Về phân quyền chứng nhận xuất xứ hàng hóa tại khoản 7 và khoản 8 Điều 3 dự thảo Luật, sửa đổi Điều 34 và Điều 35 Luật Quản lý ngoại thương, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn tán thành phân quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu để giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) phát biểu tại Hội trường. Ảnh: Phạm Thắng
“Chứng nhận xuất xứ không chỉ là thủ tục hành chính mà cần gắn trực tiếp với việc thực hiện cam kết quốc tế, hưởng ưu đãi thuế quan và uy tín hàng hóa Việt Nam. Chỉ cần một địa phương chứng nhận thiếu chặt chẽ, để lọt gian lận, hậu quả có thể lan ra cả ngành hàng, cả thị trường xuất khẩu”, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn lưu ý.
Ghi nhận dự thảo đã giao Bộ Công Thương ban hành tiêu chí, xây dựng và vận hành hệ thống chứng nhận xuất xứ điện tử tập trung, đại biểu đề nghị làm rõ thêm trách nhiệm hậu kiểm, xử lý sai phạm, cơ chế phối hợp giữa các địa phương.
Đặc biệt, cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan Trung ương khi đối tác nước ngoài yêu cầu xác minh hoặc khi phát hiện chứng nhận không đúng. Theo đại biểu, phân quyền để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nhưng không được phân tán trách nhiệm quốc gia trong thực hiện các cam kết thương mại quốc tế.
Về hạn mức khuyến mại và mức giảm giá tối đa tại khoản 2 Điều 1, sửa đổi khoản 4 Điều 94 Luật Thương mại, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho biết, trong thương mại điện tử, một giao dịch có thể đồng thời sử dụng mã giảm giá, voucher, hoàn tiền, tích điểm và hỗ trợ giá của nhiều chủ thể. Nếu luật không xác định nguyên tắc tính hạn mức, sẽ phát sinh cách hiểu khác nhau và chồng chéo với pháp luật cạnh tranh.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khoá XVI. Ảnh: Khánh Duy
Quản lý quá chặt thì hạn chế kích cầu; thiếu kiểm soát thì các nền tảng lớn có thể dùng trợ giá để loại bỏ đối thủ. Vì vậy, đại biểu đề nghị luật quy định rõ nguyên tắc minh bạch, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh và cách xác định hạn mức khi áp dụng đồng thời nhiều hình thức ưu đãi; giao cơ quan có thẩm quyền quy định mức cụ thể, phù hợp với từng mô hình kinh doanh.
Đối với các quy định sửa đổi Điều 28, 57 và 77 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại khoản 3, khoản 10 và khoản 13 Điều 4 dự thảo, đại biểu cho rằng người tiêu dùng thường phải chấp nhận hợp đồng điện tử, điều kiện giao dịch soạn sẵn, gần như không có khả năng thương lượng. Các điều khoản về gia hạn tự động, hủy dịch vụ, xử lý dữ liệu, trách nhiệm bồi thường dễ gây bất lợi. Từ đó, đại biểu đề nghị tăng cường hậu kiểm theo mức độ rủi ro để phát hiện, xử lý kịp thời điều khoản bất lợi, tránh mở rộng thủ tục đăng ký hợp đồng theo mẫu không cần thiết.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Khánh Duy
Đại biểu cũng đề nghị việc hoàn thiện dự án Luật bám sát 3 yêu cầu xuyên suốt: bảo đảm an toàn pháp lý, tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường kinh doanh; chuyển mạnh từ quản lý bằng thủ tục hành chính sang quản lý dựa trên rủi ro, dữ liệu và trách nhiệm giải trình; bảo đảm đồng bộ giữa 4 luật được sửa đổi với các luật liên quan, không để chồng chéo, khoảng trống pháp lý hoặc một hành vi bị xử lý trùng lặp.
Sửa luật lần này không chỉ để tháo gỡ vướng mắc trước mắt, quan trọng hơn là kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch, an toàn, cạnh tranh lành mạnh, đủ ổn định và linh hoạt để thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng)


