Hồ Chí Minh - Người khởi nguồn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: 'Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì'(14). Khát vọng ấy được Người khái quát sâu sắc: 'Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành'.

Kim Lưu • 18/05/2026

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và mô hình phát triển dân tộc. Sau khi hoàn thành quá trình xâm lược, thực dân Pháp biến Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Các phong trào đấu tranh chống Pháp như Cần Vương, Hương Khê, Ba Đình, Bãi Sậy, Yên Thế… diễn ra quyết liệt nhưng đều thất bại. Chủ nghĩa yêu nước tuy vẫn là dòng chủ lưu của phong trào chống ngoại xâm, song chưa vượt khỏi giới hạn của hệ tư tưởng phong kiến nên rơi vào bế tắc, chưa tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc.

Đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước tiếp tục tìm kiếm khuynh hướng cứu nước mới qua phong trào Đông Du, Duy Tân hội, Đông Kinh nghĩa thục… nhưng cuối cùng vẫn thất bại. Hồ Chí Minh nhận xét: “Cụ Phan Chu Trinh… chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương; cụ Phan Bội Châu… chẳng khác gì ‘đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau’; cụ Hoàng Hoa Thám… còn nặng cốt cách phong kiến”(1). Thực tiễn đó cho thấy dân tộc Việt Nam vẫn lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Hồ Chí Minh khẳng định: “Tình hình của xã hội Việt Nam trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng đen tối như không có đường ra”(2).

Bến Nhà Rồng năm 1866. Tư liệu Thư viện Quốc gia Pháp

Bến Nhà Rồng năm 1866. Tư liệu Thư viện Quốc gia Pháp

Ngày 5/6/1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Người quyết định sang phương Tây để trực tiếp tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa thực dân và con đường phát triển của các nước tư bản. Sau này, Hồ Chí Minh kể lại: “Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(3).

Từ năm 1911 đến năm 1917, Nguyễn Tất Thành đi qua nhiều quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, châu Âu; trực tiếp chứng kiến đời sống của nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc địa. Người viết: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(4). Từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc từng bước đến với lập trường quốc tế vô sản và nhận ra số phận chung của các dân tộc thuộc địa dưới ách áp bức của chủ nghĩa đế quốc.

Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga. Tháng 6/1919, thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Versailles bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Mặc dù không được chấp nhận, nhưng sự kiện ấy đánh dấu bước xuất hiện công khai của Nguyễn Ái Quốc trên chính trường quốc tế.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, ngày 26/12/1920. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, ngày 26/12/1920. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Nguyễn Ái Quốc nhận rõ bản chất giả dối của những luận điệu “tự do”, “dân chủ” mà các nước đế quốc rêu rao. Người viết: “Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn”(5), và khẳng định: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”(6). Thực tiễn hoạt động chính trị ở Pháp cũng giúp Nguyễn Ái Quốc nhận rõ bản chất của các cuộc cách mạng tư sản. Người chỉ rõ: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ… cách mệnh không đến nơi… trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(7).

Bước ngoặt quyết định trong tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra vào tháng 7/1920, khi Người đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité. Nguyễn Ái Quốc xúc động sâu sắc vì lần đầu tiên tìm thấy con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa. Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao!... "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(8). Từ đó, Hồ Chí Minh đi đến kết luận lịch sử: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(9). Đây là bước ngoặt căn bản của cách mạng Việt Nam, mở ra con đường phát triển mới: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Một số báo L’Humanité xuất bản cách đây 100 năm.

Một số báo L’Humanité xuất bản cách đây 100 năm.

Điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là không tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách giáo điều, máy móc. Người vận dụng sáng tạo học thuyết cách mạng vô sản vào điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến. Hồ Chí Minh xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, nhưng độc lập dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(10).

Từ năm 1921 đến năm 1930, Hồ Chí Minh tập trung chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa ở Paris; xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ); viết Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường cách mệnh (1927)… nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào yêu nước Việt Nam. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cách mạng. Người xác định: “Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(11). Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có đảng để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi”(12).

Một số báo Le Paria (Người cùng khổ); Tác phẩm Đường cách mệnh (trên) và Bản án chế độ thực dân Pháp. Ảnh: Tư liệu

Một số báo Le Paria (Người cùng khổ); Tác phẩm Đường cách mệnh (trên) và Bản án chế độ thực dân Pháp. Ảnh: Tư liệu

Đầu năm 1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Hương Cảng đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài nhiều thập niên, mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”(13). Đó không chỉ là tuyên ngôn khai sinh một quốc gia độc lập, mà còn mở đầu thời đại mới của dân tộc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. Ảnh: tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. Ảnh: tư liệu

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam tiếp tục giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954; thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với đại thắng mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Những thắng lợi ấy khẳng định tính đúng đắn và sức sống mãnh liệt của con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn và khởi nguồn cho dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(14). Khát vọng ấy được Người khái quát sâu sắc: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(15).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gặt mùa (năm 1954). Nguồn: hochiminh.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gặt mùa (năm 1954). Nguồn: hochiminh.vn

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thuộc nhóm 32 nước lớn nhất thế giới; quy mô GDP năm 2025 đạt khoảng 510 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người vượt 5.000 USD; kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 800 tỷ USD. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 58% đầu những năm 1990 xuống dưới 2%; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,7 tuổi; chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục được cải thiện. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, không ngừng cải thiện đời sống, nâng cao hạnh phúc của Nhân dân, nâng tầm uy tín, vị thế đất nước trên trường quốc tế”(16).

Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN

Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN

Đến năm 2025, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia; có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn; tham gia hơn 15 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP. Chuyển đổi số, kinh tế số và đổi mới sáng tạo phát triển mạnh; kinh tế số đóng góp khoảng 18–20% GDP; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) liên tục thuộc nhóm dẫn đầu các nước có cùng mức thu nhập.

Đại hội XIV xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng đất nước “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội(17). Đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những định hướng đó tiếp tục khẳng định giá trị bền vững của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn cho dân tộc Việt Nam.

Một góc phường Thành Vinh, tỉnh Nghệ An hôm nay. Ảnh: Thành Duy

Một góc phường Thành Vinh, tỉnh Nghệ An hôm nay. Ảnh: Thành Duy

Nghệ An - quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh - hôm nay đang tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng và hiếu học để vươn lên trong thời kỳ mới. Giai đoạn 2021–2025, GRDP của tỉnh tăng bình quân khoảng 7,45%/năm; quy mô nền kinh tế tăng khoảng 1,7 lần so với năm 2020; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Năm 2025, GRDP tăng 8,44%, cao hơn mức tăng trưởng chung của cả nước, xếp thứ 3 khu vực Bắc Trung Bộ và thứ 13 cả nước. Đặc biệt, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, Nghệ An đã thu hút hơn 2,2 tỷ USD vốn FDI, đứng thứ 2 toàn quốc, khẳng định vai trò ngày càng nổi bật của tỉnh trong thu hút đầu tư và phát triển kinh tế.

Khu công nghiệp VSIP Nghệ An.

Khu công nghiệp VSIP Nghệ An.

Cầu Lạch Quèn thuộc Dự án Đường ven biển. Ảnh: C.T.V

Cầu Lạch Quèn thuộc Dự án Đường ven biển. Ảnh: C.T.V

Cảng hàng không quốc tế Vinh. Ảnh: Quang An

Cảng hàng không quốc tế Vinh. Ảnh: Quang An

Hàng hóa xuất khẩu tại cảng Cửa Lò. Ảnh: T.H

Hàng hóa xuất khẩu tại cảng Cửa Lò. Ảnh: T.H

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX xác định mục tiêu đến năm 2030 đưa Nghệ An trở thành tỉnh khá của cả nước; đến năm 2045 trở thành tỉnh phát triển nhanh, bền vững, toàn diện của khu vực Bắc Trung Bộ. Đồng thời, tỉnh tập trung phát triển trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng văn hóa và con người Nghệ An trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển lâu dài. Những mục tiêu đó thể hiện quyết tâm phát huy truyền thống quê hương Bác Hồ, khơi dậy ý chí vươn lên và khát vọng xây dựng Nghệ An ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại./.

(1) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.14.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, t.12, tr.401.
(3) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, t.1, tr.30.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 1, tr.287.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 1, tr.441.
(6) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr.37.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 1, tr.287.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, t.12, tr.562.
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.30.
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, t.12, tr.563.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 1, tr.209.
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 2, tr.289.
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tập 4, tr.3.
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội.2011; t. 4, tr.64.
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội.2011; t. 4, tr.187.
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQG sự thật, tập 1, tr.9.
(17) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.25.

Kim Lưu - Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Nghệ An; Thiết kế: Hữu Quân

Nguồn Nghệ An: https://baonghean.vn/ho-chi-minh-nguoi-khoi-nguon-con-duong-doc-lap-dan-toc-gan-lien-voi-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-10337165.html