Hồ sơ số 28/2026: Cần tìm thân nhân và đồng đội của 10 quân nhân thuộc Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 năm 1967

Trong quá trình nghiên cứu, khai thác và đối chiếu các hồ sơ chiến tranh được lưu trữ tại Trung tâm Khai thác Tài liệu Hỗn hợp (CDEC) của Hoa Kỳ, nhóm nghiên cứu Nguyễn Hồng Duy, Phó Đỗ Quyên và Nguyễn Xuân Thắng; thuộc Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI) đã phát hiện một tài liệu đặc biệt có giá trị đối với công tác tìm kiếm thân nhân liệt sĩ, cựu chiến binh và xác minh thông tin lịch sử đơn vị. Đó là hồ sơ CDEC số F034602041981, nhật ký lưu trữ (Log Number) 02-1764-67, do Sư đoàn Bộ binh 25 Hoa Kỳ thu giữ ngày 06/02/1967 tại khu vực biên giới Tây Ninh – Campuchia và báo cáo ngày 13/02/1967.

Theo tài liệu, địa điểm thu giữ nằm tại tọa độ 48P WT 982 668 (hệ quy chiếu Indian 1960), thuộc vùng rừng biên giới phía tây bắc tỉnh Tây Ninh. Đây là khu vực có ý nghĩa chiến lược đặc biệt trong giai đoạn đầu năm 1967, nơi tập trung nhiều căn cứ hậu cần, trạm liên lạc và khu trú quân của lực lượng Quân Giải phóng miền Nam cùng các đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam hoạt động trên chiến trường B2. Những cánh rừng già tiếp giáp Campuchia khi ấy vừa là tuyến vận chuyển, vừa là nơi tập kết lực lượng trước khi bước vào những trận đánh lớn của năm 1967.

Điều đáng chú ý là hồ sơ gồm 7 trang tài liệu dịch thuật, ghi lại lý lịch quân nhân của một số cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị được ký hiệu là C11, D3, Q1. Qua quá trình đối chiếu phiên hiệu đơn vị và các nguồn tài liệu quân sự, nhiều chuyên gia cho rằng đây chính là Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1 (Trung đoàn Bình Giã), thuộc Sư đoàn 9 của lực lượng Quân Giải phóng miền Nam. Trung đoàn này còn được biết đến với các mật danh Q.1, Q.271, Q.761 hoặc Đoàn 51 trong các tài liệu tình báo của Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh.

Mặc dù tài liệu ban đầu được ghi chú là hồ sơ của 20 quân nhân, phần còn lưu giữ chỉ còn thông tin của 10 người. Sau gần 60 năm, rất có thể nhiều cán bộ, chiến sĩ trong danh sách đã hy sinh, hoặc đã trở về quê hương nhưng thông tin chưa được kết nối với các cơ sở dữ liệu hiện nay. Vì vậy, nhóm nghiên cứu trân trọng công bố danh sách dưới đây, mong các cựu chiến binh Sư đoàn 9, Trung đoàn 1, Tiểu đoàn 3, Đại đội 11; các gia đình liệt sĩ, thân nhân và nhân chứng lịch sử tại Sóc Trăng, Long An, Tây Ninh, Bến Tre, Trà Vinh, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Nam cùng các địa phương liên quan hỗ trợ xác minh.

Danh sách 10 quân nhân được ghi nhận trong hồ sơ như sau:

1. Ông Văn So (bí danh Hùng)

- Sinh ngày 05/05/1941.
- Quê quán: Lạc Hòa, Vĩnh Châu, Sóc Trăng.
- Nơi cư trú trước khi tham gia cách mạng: 92/24 đường Duy Tân, Sài Gòn.
- Thân nhân: Cha là Ông Văn Cuôi (hoặc Cuội), mẹ là Trần Thị Chôi (hoặc Cuôi).

2. Lê Văn A

- Sinh năm 1939.
- Quê quán: Bình Hưng, Bình Chánh, Gia Định.
- Nơi cư trú: 133 đường Phong Phú, Chợ Lớn.
- Chức vụ: Tiểu đội phó.
- Đơn vị: C11, D3.
- Thân nhân: Nguyễn Văn Vi (hoặc Vĩ) và Lê Thị Tư (hoặc Từ).

3. Danh Báu (hoặc Danh Bậu)

- Sinh năm 1949.
- Quê quán: Vĩnh Hòa, Vĩnh Thuận, Rạch Giá.
- Chức vụ: Chiến sĩ.
- Đơn vị: C11, D3.
- Thân nhân: Danh Văn Cường và Kim Thị Ke.

4. Nguyễn Đăng Hòa

- Sinh năm 1940.
- Quê quán: Thanh Hưng, Thường Tín, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).
- Chức vụ: Chiến sĩ.
- Đơn vị: C11, D3, Q1.
- Thân nhân: Nguyễn Đăng Bòng và Nguyễn Thị Nhớn.

5. Nguyễn Thành An

- Sinh năm 1947.
- Quê quán: Bình Tiên, Gia Định – Chợ Lớn.
- Chức vụ: Tiểu đội phó.
- Đơn vị: C11, D3.
- Thân nhân: Mẹ là Nguyễn Thị Năm; thông tin người cha chưa rõ.

6. Lê Văn Cười (bí danh Lê Dũng)

- Sinh năm 1944.
- Quê quán: Phong Mầu, Giồng Trôm, Bến Tre.
- Chức vụ: Chiến sĩ.
- Đơn vị: C11, D3.
- Thân nhân: Lê Văn Vui và Huỳnh Thị Phát.

7. Nguyễn Văn Thắng

- Sinh năm 1942.
- Quê quán: Quất An, Vũng Liêm, Trà Vinh.
- Chức vụ và đơn vị chưa xác định rõ.
- Thân nhân: Nguyễn Văn Bố (hoặc Bô, Bộ) và Mai Thị Kiểm.

8. Nguyễn Văn Bé (bí danh Thành)

- Sinh năm 1946 tại Tân Phú Thượng, Đức Hòa, Long An.
- Cư trú tại Phước Hội, Dương Minh Châu, Tây Ninh.
- Chức vụ: Chiến sĩ.
- Đơn vị: D3, Đoàn 51.
- Trình độ văn hóa: Lớp 1.
- Chiều cao: 160cm.
- Thân nhân: Nguyễn Phát Đạt và Lê Thị Tròn.
- Người liên hệ khi cần: Bác Đãng (hoặc Đăng), sống tại Suối Hùng.
- Nhập ngũ ngày 02/02/1964.
- Được tặng 1 giấy khen ngày 08/11/1965.

9. Lưu Văn Quyền (bí danh Dũng)

- Sinh năm 1948 tại Lộc Ninh, Thành Trị, Sóc Trăng.
- Nhập ngũ ngày 16/08/1965.
- Nơi cư trú: Đà Ai I, Thành Trị, Sóc Trăng.
- Chức vụ chưa rõ.
- Trình độ văn hóa: Không biết đọc, biết viết.
- Chiều cao: 158cm.
- Thân nhân: Lưu Văn Long và Trần Thị Thịa.
- Người liên hệ khi cần: Lưu Văn Long, Đà Ai I, Thành Trị, Sóc Trăng.

10. Nguyễn Quang Dũ (hoặc Nguyễn Quang Dự)

- Sinh năm 1944.
- Quê quán: Điện Phong, Điện Bàn, Quảng Nam.
- Nơi cư trú: Phú Thọ, Quế Sơn, Quảng Nam.
- Trình độ văn hóa: Lớp 5.
- Chiều cao: 150cm.
- Thân nhân: Nguyễn Quang Bích và Trương Thị Thìn.

Từ góc độ nghiên cứu lịch sử quân sự, hồ sơ F034602041981 có giá trị đặc biệt bởi nó ghi nhận sự hiện diện của một đơn vị chủ lực thuộc Sư đoàn 9 tại khu vực căn cứ biên giới Tây Ninh ngay trước khi quân đội Hoa Kỳ mở chiến dịch Junction City (22/02/1967 – 14/05/1967). Trước đó, chiến dịch Gadsden (01/02/1967 – 20/02/1967) đã được triển khai nhằm thăm dò và truy tìm các đơn vị chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam đang hoạt động trong vùng căn cứ này. Nhiều tài liệu quân sự Hoa Kỳ cũng ghi nhận việc thu giữ hồ sơ liên quan đến Tiểu đoàn 3 thuộc các đơn vị chiến đấu của lực lượng cách mạng tại khu vực Tây Ninh trong cùng thời gian.

Đối chiếu với các nguồn lịch sử hiện có cho thấy Trung đoàn 1 (Trung đoàn Bình Giã) là một trong những đơn vị nòng cốt của Sư đoàn 9. Trong những năm 1966–1967, đơn vị thường xuyên hoạt động trên địa bàn Tây Ninh, Bình Long, Lộc Ninh và tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia. Đây cũng là giai đoạn các đơn vị chủ lực được củng cố lực lượng, chuẩn bị cho những chiến dịch lớn sẽ diễn ra trong năm 1967 và đặc biệt là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Sau gần sáu thập kỷ, nhiều địa danh trong hồ sơ đã thay đổi, nhiều bậc cha mẹ được ghi tên trong lý lịch quân nhân năm ấy nay đều đã qua đời. Tuy nhiên, những thông tin còn lại vẫn là những đầu mối quý giá để kết nối ký ức chiến tranh với hiện tại. Chỉ cần xác minh được một cá nhân trong danh sách, các nhà nghiên cứu có thể lần theo mạng lưới đồng đội, thân nhân và nhân chứng lịch sử để phục dựng đầy đủ hơn hành trình chiến đấu của Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 9 trong những tháng ngày ác liệt của năm 1967.

Nhóm nghiên cứu hồ sơ chiến tranh và Dự án TTU-VWAI tha thiết đề nghị các cựu chiến binh từng công tác tại Trung đoàn 1 (Q.761, Q.1, Q.271, Đoàn 51), Sư đoàn 9; các gia đình liệt sĩ, thương binh và nhân dân tại Sóc Trăng, Long An, Tây Ninh, Bến Tre, Trà Vinh, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Nam cùng chung tay rà soát thông tin. Mỗi ký ức, mỗi tấm ảnh cũ, mỗi cuốn sổ tay còn lưu giữ trong gia đình đều có thể góp phần làm sáng tỏ số phận của những người lính đã có mặt trong hồ sơ lịch sử này, đồng thời đóng góp thiết thực cho công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ, lan tỏa sâu rộng hơn nữa giá trị nhân văn của văn hóa tri ân trong thời đại hôm nay.

Hà Nội, 27/6/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của TTU-VWAI)

Đặng Vương Hưng

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/ho-so-so-282026-can-tim-than-nhan-va-dong-doi-cua-10-quan-nhan-thuoc-trung-doan-1-su-doan-9-nam-1967-a33892.html