Hồ sơ số 34/2026: Danh sách 35 người lính đã hy sinh và mất tích ở Bù Đốp cuối năm 1967 và địa chỉ thân nhân

Sau những tổn thất trong trận tập kích Chi khu quân sự Lộc Ninh cuối tháng 10/1967, Tiểu đoàn 9 (T19), Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 lại tiếp tục bước vào những trận chiến khốc liệt tại mặt trận Bù Đốp. Hồ sơ CDEC F034603250553 đã được các nhà nghiên cứu Tạ Thu Phong và Nguyễn Thị Kim Hoa của Dự án 'Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh' (TTU-VWAI) giải mã. Đó là danh tính 35 quân nhân hy sinh và mất tích trong khoảng thời gian từ ngày 17/11 đến 07/12/1967. Mỗi cái tên là một cuộc đời, một gia đình và một câu chuyện còn đang chờ được nối lại sau gần sáu mươi năm.

Nếu danh sách thương vong tại Lộc Ninh phản ánh sự ác liệt của một trận đánh, thì bản "Danh sách quân nhân tử trận, hy sinh, mất tích" lập ngày 12/12/1967 lại cho thấy cả một tháng chiến đấu liên tục của Tiểu đoàn 9 trên chiến trường Bù Đốp.

Điều đặc biệt là ngay trên bìa báo cáo, ngoài danh sách 35 quân nhân tử trận và mất tích, đơn vị còn thống kê 190 thương binh. Chỉ riêng con số ấy cũng đủ hình dung mức độ ác liệt của mặt trận Đông Nam Bộ cuối năm 1967, nơi những người lính Trung đoàn 3 phải đối mặt không chỉ với bom đạn mà còn với bệnh tật, thiếu thốn và những cuộc tập kích liên tiếp của đối phương.

1- Danh sách 14 cán bộ chiến sĩ đã hy sinh và địa chỉ thân nhân

1. Huỳnh Văn Hậu (bí danh Ngọc Thảo), sinh năm 1943, chiến sĩ bộ phận Thông tin. Quê xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc xã Long Hưng, tỉnh Đồng Tháp). Cha là Huỳnh Văn Gáo, mẹ Lê Thị Láng, vợ Nguyễn Thị Bé. Hồ sơ ghi ông hy sinh ngày 28/11/1967 khi cùng đồng đội đi sửa đường dây thông tin thì gặp biệt kích. Nơi an táng chỉ ghi chung là khu vực Bù Đốp, chưa xác định được vị trí cụ thể.

2. Đặng Văn Đức, sinh năm 1946, Tiểu đội phó bộ phận Thông tin. Quê xã An Ngãi Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã An Hiệp, tỉnh Vĩnh Long). Cha Đặng Văn Lọt, mẹ Bùi Thị Nết. Ông hy sinh trong cùng hoàn cảnh với Huỳnh Văn Hậu khi làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc cho đơn vị. Sau gần sáu mươi năm, địa điểm an táng vẫn chưa được xác định.

3. Đinh Bá Mừng, sinh năm 1942, chiến sĩ B11/T19. Quê xã Quyết Tiến, tỉnh Hải Dương. Cha đã mất, mẹ là Nguyễn Thị Bé. Hồ sơ xác định ông hy sinh ngày 28/11/1967, nhưng chưa ghi rõ hoàn cảnh cụ thể. Địa danh quê cũ hiện vẫn cần tiếp tục đối chiếu với đơn vị hành chính ngày nay để thuận lợi cho việc tìm kiếm thân nhân.

4. Võ Văn Tân (bí danh Thành), sinh năm 1946, chiến sĩ B13/T19. Quê xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc tỉnh An Giang). Cha Võ Văn Dần, mẹ Nguyễn Thị Tốt. Hồ sơ ghi ông hy sinh ngày 29/11/1967 trong một trận đánh với biệt kích Mỹ tại khu vực Bù Đốp.

5. Đỗ Đình Phổ, sinh năm 1946, chiến sĩ trinh sát. Quê xã Kim Ngưu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Cha Đỗ Đình Tỉnh, mẹ Nguyễn Thị Cừ. Điều khiến người đọc không khỏi xót xa là ông không ngã xuống vì bom đạn mà hy sinh do sốt rét ác tính giữa chiến trường vào ngày 17/10/1967. Một chi tiết nhỏ nhưng nhắc nhớ rằng bệnh tật cũng từng cướp đi sinh mạng của rất nhiều người lính trong những cánh rừng miền Đông Nam Bộ.

6. Nguyễn Văn Bôn, sinh năm 1948, chiến sĩ trinh sát. Quê cũng tại xã Kim Ngưu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Cha Nguyễn Văn Nghếch, mẹ Nguyễn Thị Mi, vợ Nguyễn Thị Chinh. Cùng với Đỗ Đình Phổ, ông hy sinh vì sốt rét ác tính khi tuổi đời còn rất trẻ.

7. Bùi Văn Hân, sinh năm 1945, Trung sĩ bộ phận Thông tin. Quê xã Tiền Phong, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay thuộc xã Vĩnh Hải, thành phố Hải Phòng). Cha Bùi Văn Chén, vợ Lê Thị Mầu. Hồ sơ ghi ông hy sinh do bom ngày 03/12/1967, trong khi vẫn làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc cho đơn vị.

8. Nguyễn Văn Vón (tên trong hồ sơ chưa đọc thật rõ), sinh năm 1944, chiến sĩ B14/T19. Quê xã Hiệp Mỹ, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc xã Hiệp Mỹ, tỉnh Vĩnh Long). Cha Nguyễn Văn Muôn, mẹ Nguyễn Thị Lựu. Ông cũng hy sinh trong đợt bom ngày 03/12/1967.

9. Phạm Văn Mùi, sinh năm 1943, chiến sĩ B13/T19. Quê xã Tự Lập, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc xã Tiến Thắng, thành phố Hà Nội). Cha Phạm Văn Bôn, mẹ Lê Thị Qui. Ông hy sinh do bom trong cùng ngày 03/12/1967, để lại nỗi đau cho gia đình nơi quê nhà miền Bắc.

10. Nguyễn Văn Cư (hồ sơ còn ghi Cu hoặc Cừ, bí danh Liêm), sinh năm 1945, Tiểu đội phó bộ phận Thông tin. Quê xã Quới Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Quới Điền, tỉnh Vĩnh Long). Cha Nguyễn Văn Huê, mẹ Nguyễn Thị Nhiễu. Ông hy sinh trong trận tập kích đêm 07/12/1967 tại Trảng Lúa, cách Phân khu quân sự Bù Đốp khoảng 2 km.

11. Huỳnh Văn Bài, sinh năm 1946, Tiểu đội phó bộ phận Thông tin. Quê xã Long Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc xã Long Hòa, tỉnh Vĩnh Long). Cha Huỳnh Văn Tranh, mẹ Trần Thị Hoài. Ông cũng hy sinh trong trận Trảng Lúa đêm 07/12/1967, khi đang làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc.

12. Huỳnh Văn Chữ (bí danh Thanh Bình), sinh năm 1942, Trung đội trưởng B13/T19. Quê xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay thuộc xã Đức Hòa, tỉnh Tây Ninh). Cha đã mất, mẹ Hồ Thị Rải. Là cán bộ chỉ huy của đơn vị, ông anh dũng hy sinh trong trận tập kích Trảng Lúa đêm 07/12/1967.

13. Võ Văn Nơi (bí danh Hồng), sinh năm 1942, Trung đội phó B13/T19. Quê xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long). Cha Võ Văn Lương, mẹ Đoàn Thị Chắc. Ông là một trong những cán bộ chủ chốt của Đại đội 13 đã ngã xuống trong trận đánh cuối cùng tại Bù Đốp.

14. Hoàng Khắc Hà, sinh năm 1947, chiến sĩ B13/T19. Quê xã Đồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xã Việt Tiến, tỉnh Hưng Yên). Cha Hoàng Khắc Thuật, mẹ Nguyễn Thị Toàn. Mới ngoài hai mươi tuổi, ông đã hy sinh trong trận Trảng Lúa ngày 07/12/1967, khép lại tuổi thanh xuân nơi chiến trường miền Đông Nam Bộ.

2- Danh sách 21 người lính mất tích và địa chỉ thân nhân

Nếu 14 liệt sĩ ở phần trên đã phần nào xác định được hoàn cảnh hy sinh, thì 21 quân nhân còn lại trong Hồ sơ CDEC F034603250553 vẫn mang chung một dòng ghi chú đầy day dứt: "Mất tích trong trận tập kích Trảng Lúa - Bù Đốp đêm 07/12/1967." Gần sáu mươi năm đã trôi qua, số phận của nhiều người trong số họ vẫn chưa được làm sáng tỏ. Chính vì vậy, mỗi thông tin về quê quán, thân nhân và đơn vị dưới đây đều có ý nghĩa đặc biệt đối với công tác tìm kiếm, xác minh danh tính hôm nay.

1. Huỳnh Minh Lương (bí danh Lợi), sinh năm 1940, Đại đội phó Chính trị B11/T19. Quê xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay thuộc phường Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long). Cha Huỳnh Văn Lượm, mẹ Dương Thị Biết (hoặc Bút). Là cán bộ chính trị của đơn vị, ông mất tích trong trận Trảng Lúa đêm 07/12/1967.

2. Châu Văn Sáu (bí danh Hoàn Thành), sinh năm 1942, Trung đội phó B11/T19. Quê xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc phường Cai Lậy, tỉnh Đồng Tháp). Mẹ là Trần Thị Xung, cha đã mất. Hồ sơ còn ghi chú: "Báo tin cho chị Châu Thị Liền", một chi tiết rất có giá trị để kết nối thân nhân hiện nay.

3. Đỗ Văn Ơn (hồ sơ còn ghi On, bí danh Hoàng Hải), sinh năm 1942, Trung đội trưởng kiêm Chính trị viên B11/T19. Quê xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Phú Túc, tỉnh Vĩnh Long). Cha ghi là Phạm Văn Huệ, mẹ Đỗ Thị Thê. Là một cán bộ chỉ huy, ông mất tích trong cùng trận đánh.

4. Ngô Văn Thôi (bí danh Dũng Cảm), sinh năm 1947, Tiểu đội phó B11/T19. Quê xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Nhuận Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long). Cha Ngô Văn Tương, mẹ Nguyễn Thị Năm. Mất tích ngày 07/12/1967.

5. Đặng Văn Đồng, sinh năm 1949, chiến sĩ B11/T19. Quê xã Đồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xã Việt Tiến, tỉnh Hưng Yên). Cha Đặng Văn Kình, mẹ Nguyễn Thị Thơm. Khi mất tích, ông mới tròn hai mươi tuổi.

6. Phan Văn Hiệp, sinh năm 1948, chiến sĩ B11/T19. Quê xã Tam Quan, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai). Cha Phan Văn Sơn, mẹ Nguyễn Thị Sương. Hồ sơ còn lưu địa chỉ cư trú tại Hà Nội, là đầu mối đáng quý để tiếp tục xác minh.

7. Nguyễn Lương Khoái, sinh năm 1945, chiến sĩ B11/T19. Quê xã Hoằng Anh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xã Long Anh, tỉnh Thanh Hóa). Cha Nguyễn Lương Hãn, mẹ Nguyễn Thị Tình. Ông vào Nam chiến đấu đầu năm 1967 rồi mất tích cuối năm ấy.

8. Huỳnh Văn Sắc, sinh năm 1941, Trung đội trưởng B12/T19. Quê xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Thạnh Phong, tỉnh Vĩnh Long). Cha Huỳnh Văn Mì, mẹ Đặng Thị Cẩn. Là cán bộ chỉ huy của Trung đội 12, ông mất tích trong trận Trảng Lúa.

9. Nguyễn Văn Cước, sinh năm 1946, Tiểu đội phó B12/T19. Quê xã Long An, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (nay thuộc xã Phước Vĩnh Tây, tỉnh Tây Ninh). Cha Nguyễn Văn Tiên, mẹ Nguyễn Thị Tho, vợ Nguyễn Thị Diệu. Hồ sơ cho biết ông từng được tặng năm Giấy khen trước khi mất tích.

10. Nguyễn Văn Sô, sinh năm 1947, Tiểu đội phó B12/T19. Quê xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (nay thuộc xã Cần Giuộc, tỉnh Tây Ninh). Cha Nguyễn Văn Phương, mẹ Võ Thị Phải. Ông là một trong những đảng viên trẻ mất tích trong trận đánh này.

11. Phan Văn Mã, sinh năm 1947, chiến sĩ B12/T19. Quê xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xã Việt Tiến, tỉnh Hưng Yên). Cha Phan Văn Phương, mẹ Dương Thị Noan. Ông hành quân vào Nam chưa đầy một năm trước khi mất tích.

12. Hồ Văn Đeo (bí danh Hoài), sinh năm 1936, Đại đội phó B13/T19. Quê Phú Mỹ, Bà Rịa (nay thuộc TP Hồ Chí Minh). Vợ Nguyễn Thị Đẹt. Hồ sơ ghi rõ địa chỉ báo tin tại Phú Cường, Tịnh Biên, An Giang - một chi tiết rất quan trọng đối với việc kết nối thân nhân.

13. Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1947, chiến sĩ B13/T19. Quê xã Long Phụng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (nay thuộc xã Phước Vĩnh Tây, tỉnh Tây Ninh). Cha Nguyễn Văn Khiêm, mẹ Nguyễn Thị Thi. Mất tích ngày 07/12/1967.

14. Bùi Văn Quyền, sinh năm 1947, chiến sĩ B13/T19. Quê xã Vĩnh Hòa Hưng, huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc tỉnh An Giang). Cha Bùi Văn Thê, mẹ Nguyễn Thị Khỏe. Mất tích trong trận Trảng Lúa.

15. Nguyễn Văn Cán, sinh năm 1947, Tiểu đội phó B13/T19. Quê xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên). Cha Nguyễn Văn Thịnh, mẹ Dương Thị Chắc.

16. Phan Văn Lừ, sinh năm 1949, chiến sĩ B13/T19. Quê xã Vĩnh Long, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xã Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Cha Phan Văn Tống, mẹ Hoàng Thị Diên. Ông là một trong những chiến sĩ trẻ nhất của danh sách mất tích.

17. Lê Văn Lương, sinh năm 1944, Tiểu đội phó B14/T19. Quê xã Tân Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Tân Thành Bình, tỉnh Vĩnh Long). Cha Lê Văn Vĩ. Hồ sơ không còn lưu tên người mẹ.

18. Huỳnh Văn Bảy, sinh năm 1944, Tiểu đội trưởng B14/T19. Quê xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long). Cha Huỳnh Văn Đăng, mẹ Phạm Thị Khéo. Ông từng được tặng ba Giấy khen trước khi mất tích.

19. Nguyễn Văn Trọng, sinh năm 1947, chiến sĩ B14/T19. Quê xã Vân Hội, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc xã Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ). Cha Nguyễn Văn Kinh, mẹ Nguyễn Thị Thêm.

20. Phan Văn Vui, sinh năm 1947, Tiểu đội phó B14/T19. Quê xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long). Cha Phan Văn Vĩ, mẹ đã mất. Là đảng viên trẻ của đơn vị, ông mất tích khi tuổi đời còn rất trẻ.

21. Nguyễn Văn Hợi, sinh năm 1946, Tiểu đội phó B14/T19. Quê xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long). Cha Nguyễn Văn Bô, mẹ Nguyễn Thị Bá. Ông là người cuối cùng trong danh sách 35 quân nhân của Hồ sơ CDEC F034603250553, nhưng cũng như nhiều đồng đội khác, số phận sau trận chiến vẫn còn để lại nhiều khoảng trống cần được tiếp tục tìm kiếm và xác minh.

Nghiên cứu những trang của Hồ sơ CDEC F034603250553, điều còn đọng lại với chúng tôi không chỉ là những con số thống kê về thương vong, mà là số phận của những người lính thuộc Tiểu đoàn 9 (T19), Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 đã hy sinh hoặc mất tích trong những tháng cuối năm 1967. Mỗi dòng chữ trong bản báo cáo nhân sự năm ấy đều gắn với một mái nhà nơi quê hương, với những người cha, người mẹ, người vợ, người anh, người chị đã mòn mỏi chờ đợi tin tức của người thân suốt gần sáu mươi năm qua.

Đối với Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI), mỗi hồ sơ CDEC được giải mã không chỉ nhằm bổ sung tư liệu lịch sử, mà quan trọng hơn là mở thêm cơ hội để kết nối con người với con người. Không ít trường hợp, chỉ từ một cái tên người cha, người mẹ, một địa danh cũ, một bí danh hay một dòng ghi chú ngắn trong hồ sơ đã giúp tìm lại được thân nhân liệt sĩ, gặp được đồng đội cũ hoặc xác định thêm thông tin về nơi chiến đấu và nơi an táng.

Bắc Giang, 08/7/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)

Đặng Vương Hưng

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/ho-so-so-342026-danh-sach-35-nguoi-linh-da-hy-sinh-va-mat-tich-o-bu-dop-cuoi-nam-1967-va-dia-chi-than-nhan-a34099.html