Hồ sơ số 36/2026: Các cựu chiến binh Lê Chân, Nguyễn Văn Hên, Trần Văn Vị, Lâm Văn Á… và 50 quân nhân năm ấy bây giờ đang ở đâu?

Hồ sơ CDEC F034603281152, được phía Hoa Kỳ thu giữ tại chiến trường Bình Dương đầu tháng 2/1968, hôm nay đang mở ra một cơ hội như thế: trả lại tên tuổi cho hơn 50 cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 20, Trung đoàn 273, Sư đoàn 9 và hy vọng nối thêm những mạch ký ức của lịch sử.

Từ một hồ sơ CDEC đến hành trình tìm lại những người lính Đại đội 20, Trung đoàn 273, Sư đoàn 9. Bài viết này, dựa trên kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thương, Nguyễn Xuân Thắng và Lê Đăng Quang – các thành viên của Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm Người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI) vừa hoàn thành.

1- Những tờ giấy khen còn dang dở giữa chiến trường

Hồ sơ CDEC F034603281152 (Log số 03-1875-68) được Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4 Kỵ binh thuộc Sư đoàn Bộ binh số 1 Hoa Kỳ thu giữ ngày 02/02/1968 tại khu vực Phú Mỹ, Thủ Dầu Một, Bình Dương, trên hành lang chiến lược Quốc lộ 13 nối Bàu Bàng với Lộc Ninh. Đây là thời điểm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân đang diễn ra vô cùng quyết liệt trên toàn chiến trường miền Nam.

Điều đặc biệt là hồ sơ không phải nhật lệnh tác chiến hay sơ đồ quân sự, mà gồm các quyết định bổ nhiệm, giấy chứng nhận chiến công, giấy khen, bằng khen cùng danh sách khoảng 50 quân nhân của Đại đội 20 thuộc Trung đoàn 273, Sư đoàn 9.

Những tờ giấy ấy vốn được người lính gìn giữ rất cẩn thận. Có những giấy khen ghi nhận thành tích trong trận Bàu Bàng. Có bằng khen dành cho trận tập kích Chi khu quân sự Lộc Ninh ngày 28/10/1967. Có quyết định thăng chức cho cán bộ trung đội. Tất cả đều phản ánh một đơn vị đang trưởng thành qua từng trận đánh, từng chiến công và từng lần bổ sung lực lượng.

Việc nhiều tài liệu cá nhân cùng xuất hiện với tài liệu cấp đơn vị cho thấy rất có thể chúng đã được tập hợp tại một địa điểm trước khi xảy ra giao tranh. Rồi trong khói lửa chiến tranh, những hồ sơ ấy bị bỏ lại trên chiến trường và trở thành một phần trong kho tư liệu CDEC suốt gần sáu mươi năm qua.

Ngày hôm nay, khi những trang giấy ấy trở về với lịch sử Việt Nam, điều quý giá nhất không phải là giá trị quân sự, mà là những cái tên của những người lính đã được lưu giữ nguyên vẹn.

2- Những người chỉ huy của Đại đội 20 hôm nay còn ai?

Trong hồ sơ xuất hiện nhiều người chỉ huy của đơn vị. Đứng đầu là Lê Chân, Thủ trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 72 (Sư đoàn 9), người trực tiếp ký những quyết định khen thưởng cao nhất dành cho Đại đội 20. Dù tên tuổi ông đã được xác định trong hồ sơ, nhưng cuộc đời sau chiến tranh của ông đến nay vẫn còn cần được tiếp tục làm rõ. Ông còn sống hay đã trở thành người thiên cổ? Gia đình hiện ở đâu? Đó vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ.

Một nhân vật quan trọng khác là Nguyễn Văn Hên (còn gọi Nguyễn Hên), Chính ủy Trung đoàn 273. Theo tài liệu lịch sử truyền khẩu mà Dự án TTU-VWAI thu thập được, ông từng là Chính ủy Đoàn 30 – mật danh của Trung đoàn 3, Sư đoàn 9. Chính ông là người ký các quyết định bổ nhiệm cán bộ trung đội, góp phần xây dựng lực lượng cho đơn vị trong giai đoạn ác liệt nhất của chiến trường Đông Nam Bộ.

Hồ sơ cũng nhắc đến Trần Văn Vị, Trưởng ban Chính trị kiêm Phó Chính ủy Đoàn 37, người trực tiếp theo dõi phong trào thi đua và ký nhiều giấy khen dành cho cán bộ, chiến sĩ Đại đội 20. Những nét bút ký của ông vẫn còn rõ trên các văn bản, nhưng thông tin về cuộc đời sau chiến tranh vẫn đang chờ các đồng đội xác nhận.

Trong số những cái tên được nhắc đến nhiều nhất có Lâm Văn Á (trong tài liệu ghi Lâm Á). Ông quê xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, tỉnh Gia Định. Tháng 3/1967, khi giữ cương vị Đại đội phó Đại đội 20, ông được khen thưởng vì chỉ huy xuất sắc lực lượng thông tin trong trận Bàu Bàng. Đến cuối năm 1967, ông đã được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng và tiếp tục được tặng bằng khen sau trận tập kích Chi khu quân sự Lộc Ninh đêm 28/10/1967. Một quá trình trưởng thành rất rõ nét của người chỉ huy trẻ đã được ghi lại qua chính những văn bản hành chính bình dị ấy.

Nhưng điều mà những người làm Dự án TTU-VWAI mong muốn hơn cả không chỉ là biết ông từng giữ chức vụ gì, mà là được biết hôm nay ông còn hay đã mất, gia đình hiện ở đâu, con cháu có còn lưu giữ những ký ức về người chiến sĩ năm xưa hay không.

Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của công việc giải mã các hồ sơ CDEC.

3- Năm mươi người lính trong danh sách năm ấy hôm nay đang ở đâu?

Điều xúc động nhất của hồ sơ là danh sách khoảng 50 cán bộ, chiến sĩ Đại đội 20 được khen thưởng Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Hai và hạng Ba. Mỗi cái tên là một con người. Mỗi con người là một số phận.

1.Trần Thanh Song – Đại đội trưởng Đại đội 20.

2.Trần Văn Quới – Chính trị viên Đại đội.

3.Lâm Văn Á – Đại đội phó, sau là Đại đội trưởng.

4.Phan Huỳnh – Trung đội trưởng.

5.Khổng Khoe – Trung đội trưởng.

6.Nguyễn Văn Tư – Trung đội phó.

7.Nguyễn Minh Thế – Trung đội phó.

8.Nguyễn Văn Tính – Trung đội phó.

9.Phan Văn Ngô – Trung đội phó.

10.Lê Văn Nhơn – Trung đội phó.

11.Nguyễn Văn Biên – Trung đội phó.

12.Hồ Văn Tống – Tiểu đội trưởng.

13.Nguyễn Văn Ghép – Tiểu đội trưởng.

14.Trần Hữu Chiến – Tiểu đội trưởng.

15.Huỳnh Văn Lô (hoặc Lộ) – Tiểu đội trưởng.

16.Nguyễn Văn Bá – Tiểu đội trưởng.

17.Lê Văn Chích – Tiểu đội trưởng.

18.Châu Tấn Long – Tiểu đội trưởng.

19.Nguyễn Văn Điều – Tiểu đội trưởng.

20.Nguyễn Văn Lập – Tiểu đội trưởng.

21.Mã Đăng Thuân (hoặc Thuận) – Tiểu đội trưởng.

22.Phan Văn Tế – Tiểu đội trưởng.

23.Trần Văn Hoàng – Tiểu đội trưởng.

24.Hoàng Tuấn Kiệt – Tiểu đội trưởng.

25.Hứa Văn Hướng – Tiểu đội trưởng.

26.Phùng Khắc Châu – Tiểu đội trưởng.

27.Nguyễn Văn Sung – Tiểu đội phó.

28.Nguyễn Văn Năm – Tiểu đội phó.

29.Phạm Quang Phưới – Tiểu đội phó.

30.Lê Thanh Điện – Tiểu đội phó.

31.Đặng Văn Hiệp – Tiểu đội phó.

32.Nguyễn Văn Sẳn (hoặc Sắn) – Tiểu đội phó.

33.Phạm Chiến Đấu – Tiểu đội phó.

34.Dương Văn Thành – Tiểu đội phó.

35.Võ Văn Quang – Tiểu đội phó.

36.Trần Văn Quang – Tiểu đội phó.

37.Huỳnh Văn Hải – Tiểu đội phó.

38.Phạm Văn Tất – Tiểu đội phó.

39.Lê Văn Tý – Tiểu đội phó.

40.Đặng Thái Khanh – Tiểu đội phó.

41.Trương Văn Hùng – Tiểu đội phó.

42.Bùi Văn Em – Tiểu đội phó.

43.Nguyễn Văn Dương – Tiểu đội phó.

44.Phạm Thanh Biên – Tiểu đội phó.

45.Nguyễn Văn Việt – Tiểu đội phó.

46.Phạm Thanh Hồng – Tiểu đội phó.

47.Nguyễn Tấn Lực – Chưa xác định chức vụ.

48.Lê Ngọc Ẩn – Chưa xác định chức vụ.

49.Trần Văn Hạnh – Chưa xác định chức vụ.

50.Nguyễn Văn Đấu – Chưa xác định chức vụ.

Sáu mươi năm đã trôi qua. Trong năm mươi người lính ấy, có bao nhiêu người đã hoàn thành nhiệm vụ rồi trở về quê hương? Bao nhiêu người đã anh dũng hy sinh trên những cánh rừng Bình Dương, Tây Ninh, Bình Long? Bao nhiêu người vẫn còn sống mà chưa từng biết tên mình vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn trong một hồ sơ CDEC ở bên kia bán cầu suốt gần sáu thập kỷ?

Đó là những câu hỏi mà lịch sử vẫn đang chờ lời giải.

Hồ sơ này cũng cho thấy giá trị đặc biệt của việc kết hợp tài liệu CDEC với báo cáo tác chiến của phía Hoa Kỳ, lịch sử đơn vị và ký ức của các cựu chiến binh. Khi các lớp dữ liệu được đối chiếu với nhau, hành trình của từng người lính sẽ dần hiện rõ hơn, góp phần xác định danh tính, đơn vị, địa bàn hoạt động và trong nhiều trường hợp có thể mở ra hướng tìm kiếm thông tin về những quân nhân còn mất tích.

Trong tháng Bảy – tháng của lòng biết ơn – mỗi cái tên được đọc lại không chỉ là một dòng chữ trong hồ sơ lưu trữ, mà còn là một lời nhắc nhở về trách nhiệm của những người đang sống.

Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI) mong muốn thông qua bài viết này tiếp tục kết nối với các cựu chiến binh từng công tác tại Trung đoàn 273, Sư đoàn 9; các thân nhân của các đồng chí Lê Chân, Nguyễn Văn Hên, Trần Văn Vị, Lâm Văn Á và 50 quân nhân trong danh sách trên.

Bởi biết đâu, chỉ một cuộc điện thoại, một tấm ảnh cũ, một cuốn sổ tay hay một ký ức được kể lại hôm nay sẽ giúp trả lời câu hỏi mà thời gian vẫn còn để ngỏ: Những người lính ấy bây giờ đang ở đâu?

Dầu Tiếng, 12/7/2026

Đ.V.H

Đặng Vương Hưng (Thành viên của Dự án TTU-VWAI)

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/ho-so-so-362026-cac-cuu-chien-binh-le-chan-nguyen-van-hen-tran-van-vi-lam-van-a-va-50-quan-nhan-nam-ay-bay-gio-dang-o-dau-a34174.html