Hồ sơ số 90/2026: Hành trình tìm kiếm liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp và danh sách 11 đồng đội hy sinh cùng ngày
Hơn nửa thế kỷ qua, cha mẹ đã mất trong chờ đợi; người em thương binh đã già yếu sau nhiều năm đi tìm anh; nay người cháu lại tiếp tục gõ cửa từng cơ quan, lần theo từng trang tài liệu và tìm gặp từng đồng đội. Hành trình ấy được nâng đỡ bởi một niềm tin giản dị: người lính có thể chưa trở về, nhưng gia đình và đồng đội sẽ không bao giờ để ông bị lãng quên.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp, quê Thường Tín, Hà Nội, vẫn chưa biết chính xác ông hy sinh ở đâu, hài cốt đã được quy tập hay còn nằm lại chiến trường. Giấy báo tử và các nguồn dữ liệu quân đội hiện tồn tại nhiều khác biệt về năm sinh, thời điểm nhập ngũ, cấp bậc, chức vụ, đơn vị và ngày hy sinh. Bằng tình cảm, trách nhiệm đối với người bác ruột chưa trở về, chị Nguyễn Thị Thu Hằng đã kiên trì lần theo từng dấu vết, từng đồng đội và từng trang hồ sơ, bước đầu xác định liệt sĩ có thể hy sinh trong trận tập kích trận địa pháo Đăk Tô 2 ngày 21/4/1971.
1. Một người lính ra đi, hơn nửa thế kỷ chưa trở về
Trong ký ức của gia đình tại xã Thư Phú, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình trước đây, nay thuộc thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn Hiệp là người con trai chưa kịp lập gia đình. Ông không có vợ, không có con. Khi ông ra chiến trường, phía sau là cha Nguyễn Văn Quang, mẹ Trương Thị Vi cùng những người em ruột luôn ngóng đợi. Theo giấy báo tử và thông tin được Cục Chính sách – Xã hội, Tổng cục Chính trị cung cấp ngày 21/8/2026, liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp sinh năm 1947, nguyên quán Thư Phú, Thường Tín, Hà Sơn Bình; nhập ngũ tháng 7/1969; cấp bậc Trung sĩ, chức vụ Tiểu đội phó; đơn vị DMT; hy sinh ngày 13/11/1972 tại Mặt trận phía Nam và được an táng tại nghĩa trang gần mặt trận.
Tuy nhiên, giấy báo tử mà gia đình lưu giữ lại ghi cấp bậc, chức vụ của ông là Hạ sĩ – Chiến sĩ. Những thông tin khái quát như “DMT”, “Mặt trận phía Nam” và “nghĩa trang gần mặt trận” không đủ để xác định địa bàn chiến đấu, nơi hy sinh cũng như vị trí an táng ban đầu của liệt sĩ.
Sự thiếu hụt ấy đã khiến hành trình tìm kiếm kéo dài qua nhiều thế hệ. Cha mẹ liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp đều đã qua đời. Những người em của ông nay tuổi đã cao, sức khỏe yếu, không còn khả năng đi nhiều nơi để tìm kiếm. Trong số những người từng trực tiếp mang nặng nỗi đau và trách nhiệm ấy có em trai ông – một thương binh hạng nặng 1/4A, tỷ lệ mất sức lao động trên 81%, mang vết thương đặc biệt ở đầu.

Dù sức khỏe hạn chế, người em thương binh vẫn nhiều năm đi gặp Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tây trước đây, tìm đồng đội cũ, liên hệ cơ quan lao động – thương binh và xã hội cùng nhiều cơ quan chức năng. Nhưng mỗi cuộc tìm kiếm rồi lại dừng trước những dòng thông tin quá ít ỏi trên giấy báo tử.
Người anh ra đi không vợ, không con. Người em thương binh đã dành nhiều năm tìm kiếm nhưng chưa thể đưa anh trở về. Nỗi day dứt ấy tiếp tục được trao lại cho thế hệ sau.
Năm 2026, chị Nguyễn Thị Thu Hằng, cháu ruột của liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp, quyết định nối tiếp hành trình. Chị làm đơn gửi Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, mong được tra cứu đầy đủ hơn về đơn vị, địa bàn chiến đấu, nơi hy sinh và nơi an táng của bác mình.
Từ đây, một câu chuyện đầy bất ngờ và nhiều day dứt bắt đầu được hé mở.
2. Khi hồ sơ của hai liệt sĩ bị ghép nhầm
Từ kết quả tra cứu ban đầu, gia đình nhận được thông tin cho rằng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp thuộc Đại đội 7, Tiểu đoàn 105, Trung đoàn 270, Sư đoàn 565, Quân khu 5. Với mong muốn kiểm chứng đến cùng, chị Nguyễn Thị Thu Hằng tiếp tục liên hệ Phòng Chính sách, Cục Chính trị Quân khu 5, Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng và Bệnh viện Quân y 17.
Hồ sơ của bệnh viện cho thấy có một liệt sĩ mang tên Nguyễn Tiến Hiệp, sinh năm 1946. Bằng nhiều phương pháp tìm kiếm, với sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng và Ban Chỉ huy quân sự xã Khâm Đức, gia đình tìm được phần mộ mang tên Nguyễn Tiến Hiệp. Nhưng ngôi mộ này đã được một gia đình khác di chuyển từ Nghĩa trang liệt sĩ Khâm Đức về xã Liên Ninh, huyện Thường Tín, Hà Tây trước đây, nay thuộc xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội, từ năm 2000.
Khi đối chiếu kỹ, ngoài sự gần giống về họ tên và năm sinh, hàng loạt thông tin còn lại đều không trùng khớp với liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp mà gia đình đang tìm kiếm: quê quán khác, thời điểm nhập ngũ khác, ngày hy sinh khác, nơi an táng ban đầu khác và thân nhân cũng khác.

Như vậy, theo kết quả xác minh của gia đình, dữ liệu tra cứu ban đầu có khả năng đã ghép nhầm thông tin của hai liệt sĩ: Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Tiến Hiệp.
Chị Thu Hằng quay lại Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, trình bày toàn bộ quá trình xác minh, cung cấp hình ảnh phần mộ và đề nghị đối chiếu lại hồ sơ. Sau đó, gia đình được cấp bản xác nhận mới, trong đó các nội dung trở về với thông tin ghi trên giấy báo tử. Tuy nhiên, hồ sơ vẫn không cung cấp được những dữ kiện quan trọng nhất để tìm mộ: phiên hiệu đầy đủ của đơn vị, địa điểm hy sinh cụ thể và vị trí an táng ban đầu.
Một lỗi dữ liệu tưởng như chỉ nằm trên máy tính đã khiến gia đình phải đi qua nhiều địa phương, liên hệ nhiều đơn vị và từng có lúc đứng trước phần mộ của một người lính khác với hy vọng đó là người thân của mình.
Nhưng cũng chính từ lần xác minh không thành ấy, gia đình càng hiểu rằng muốn tìm được liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp, không thể chỉ dựa vào một dòng trích lục. Cần phải mở rộng tìm kiếm từ lịch sử đơn vị, diễn biến trận đánh, danh sách đồng đội cùng hy sinh và lời kể của những người còn sống.
3. Dấu vết từ Đại đội 17, trận tập kích Đăk Tô 2 và danh sách 11 đồng đội cùng hy sinh
Từ những mối liên hệ với đồng đội cũ, gia đình từng bước thu thập được thông tin cho thấy Nguyễn Văn Hiệp nhập ngũ tại miền Bắc vào khoảng tháng 7/1969. Sau thời gian huấn luyện, ông hành quân vào chiến trường Tây Nguyên và được biên chế vào Đại đội 17, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 400, lực lượng Đặc công B3; về sau đơn vị nằm trong đội hình Sư đoàn 10.
Một đồng đội tên Hải, hiện ở Ứng Hòa, Hà Nội, cho biết ông Hải và Nguyễn Văn Hiệp từng được phong chức Tiểu đội trưởng trong cùng một ngày. Thông tin này có sự tương đồng đáng chú ý với hồ sơ do Cục Chính trị Quân đoàn 34 cung cấp, trong đó chức vụ của Nguyễn Văn Hiệp được ghi là Tiểu đội trưởng.
Theo lời kể của đồng đội, ngày 6/4/1971, Đại đội 17 từ khu vực núi hành quân xuống, đi về phía mặt trời lặn, vượt Quốc lộ 14, tiến vào hướng căn cứ 5 tại khu vực Tân Cảnh, Kon Tum. Trận chiến diễn ra ác liệt. Một chiến sĩ tên Trung bị thương, bị đối phương bắt và được trả tự do sau ngày đất nước thống nhất. Đồng đội Hải bị thương nhưng trốn thoát. Riêng Nguyễn Văn Hiệp, những người còn sống khi ấy không biết ông đã hy sinh tại trận hay bị thương rồi được chuyển về tuyến sau.

Khoảng trống ấy tồn tại suốt nhiều năm, cho đến khi gia đình tiếp cận được hồ sơ của Quân đoàn 34.
Ngày 18/8/2026, Cục Chính trị Quân đoàn 34 ban hành Giấy xác nhận số 271/GXN-CCT về nơi liệt sĩ hy sinh. Theo dữ liệu đang lưu trữ tại các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đoàn 34, liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp sinh năm 1951; quê quán Phú Mỹ, Độc Lập, Thường Tín, Hà Tây; nhập ngũ tháng 8/1969; đơn vị khi hy sinh là Đại đội 17, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 400, Đặc công B3; chức vụ Tiểu đội trưởng; hy sinh ngày 21/4/1971 trong khi chiến đấu tập kích trận địa pháo Đăk Tô 2, Kon Tum. Hồ sơ ghi nơi an táng ban đầu: “Mất xác”; thân nhân là cha Nguyễn Văn Quang.
Dù năm sinh và tháng nhập ngũ chưa trùng với giấy báo tử, nhiều yếu tố trong giấy xác nhận này lại phù hợp với kết quả gia đình đã xác minh: họ tên liệt sĩ; địa bàn quê quán; tên người cha; quá trình vào chiến trường Tây Nguyên; đơn vị Đại đội 17, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 400, Đặc công B3; chức vụ Tiểu đội trưởng và dấu vết của trận đánh tại Đăk Tô. Đặc biệt, gia đình xác định địa danh Phú Mỹ, xã Độc Lập, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây trong hồ sơ Quân đoàn 34 chính là khu vực thuộc xã Thư Phú, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn Bình được ghi trên giấy báo tử. Sự khác nhau này có thể bắt nguồn từ biến động địa giới hành chính hoặc cách ghi địa danh theo từng thời kỳ, cần tiếp tục được cơ quan chuyên môn kiểm tra, xác nhận.
Cùng hy sinh ngày 21/4/1971 trong trận tập kích trận địa pháo Đăk Tô 2 còn có 11 cán bộ, chiến sĩ của đơn vị:
1.Đỗ Trần Khản, sinh năm 1939, quê Phú Thị, Phú Cường, Quảng Oai, Hà Tây;
2.Nguyễn Quốc Tuấn, sinh năm 1940, quê Cổ Châu, Châu Can, Phú Nguyên, Hà Tây;
3.Trần Văn Rật, sinh năm 1942, quê Khai Lai, Thái Thủy, Thái Ninh, Thái Bình;
4.Đặng Đình Ân, sinh năm 1950, quê Thái Hòa, Hợp Đồng, Chương Mỹ, Hà Tây;
5.Nguyễn Đức Thành, sinh năm 1944, quê Hỏa Thôn, Hoằng Quý, Hoằng Hóa, Thanh Hóa;
6.Bùi Văn Trực, sinh năm 1951, quê Thư Dương, Độc Lập, Thường Tín, Hà Tây;
7.Lê Văn Hiển, sinh năm 1951, quê Tân Sơn, Tân Khang, Nông Cống, Thanh Hóa;
8.Nguyễn Hữu Quấn, sinh năm 1949, quê Đông Tiến, Ninh Châu, Tiên Hưng, Thái Bình;
9.Vương Văn Soi, sinh năm 1946, quê Mỹ Ca, Hưng Đạo, Đông Triều, Quảng Ninh;
10.Nguyễn Duy Rạch, sinh năm 1953, quê Thái Hòa, Hợp Đồng, Chương Mỹ, Hà Tây;
11.Nguyễn Xuân Lang, sinh năm 1952, quê thôn Hiện Tượng, Khánh Công, Yên Khánh, Ninh Bình.
Mười hai cán bộ, chiến sĩ được xác định hy sinh trong cùng ngày, cùng đơn vị, cùng trận đánh và đều ở trong tình trạng chưa xác định được nơi an táng. Đây là một cụm thông tin đặc biệt quan trọng. Nếu được đối chiếu với hồ sơ tác chiến, sơ đồ trận địa, báo cáo thương vong, tài liệu quy tập và nguồn tư liệu chiến tranh của phía Hoa Kỳ, danh sách này có thể giúp thu hẹp địa bàn tìm kiếm không chỉ đối với liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp mà còn đối với 11 đồng đội của ông.
Theo thông tin gia đình thu thập, người chỉ huy Trung đoàn 400 Đặc công thời kỳ đó là Trung tá Lê Thành Tam, quê Thanh Hóa, giữ chức Trung đoàn trưởng. Đây cũng là đầu mối cần được tiếp tục kiểm chứng qua lịch sử đơn vị và hồ sơ lưu trữ.
4. Cần trả lại cho liệt sĩ một hồ sơ đúng và đầy đủ
Đến nay, gia đình đang đứng trước hai nguồn thông tin chính.
Nguồn thứ nhất xác định Nguyễn Văn Hiệp sinh năm 1947, nhập ngũ tháng 7/1969, cấp bậc Trung sĩ, chức vụ Tiểu đội phó, đơn vị DMT, hy sinh ngày 13/11/1972 tại Mặt trận phía Nam và an táng tại nghĩa trang gần mặt trận.
Nguồn thứ hai xác định ông sinh năm 1951, nhập ngũ tháng 8/1969, là Tiểu đội trưởng Đại đội 17, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 400, Đặc công B3; hy sinh ngày 21/4/1971 trong trận tập kích trận địa pháo Đăk Tô 2, Kon Tum và chưa xác định được nơi an táng.
Giữa hai nguồn có sự khác nhau về năm sinh, tháng nhập ngũ, cấp bậc, chức vụ, phiên hiệu đơn vị, ngày hy sinh và tình trạng an táng. Tuy nhiên, nguồn hồ sơ của Quân đoàn 34 lại thống nhất với thông tin gia đình và đồng đội xác minh được ở nhiều yếu tố có tính nhận dạng quan trọng: họ tên, quê quán thuộc Thường Tín, tên cha Nguyễn Văn Quang, đơn vị đặc công chiến đấu tại Tây Nguyên và chức vụ chỉ huy cấp tiểu đội.
Đây chưa phải là cơ sở để gia đình tự mình đưa ra kết luận cuối cùng. Nhưng đó là một hướng điều tra có căn cứ, cần được các cơ quan chức năng phối hợp làm rõ.
Gia đình kính đề nghị Dự án TTU-VWAI hỗ trợ kết nối, làm việc với Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; Cục Chính sách – Xã hội, Tổng cục Chính trị; Cục Chính trị Quân đoàn 34; Cục Chính trị Sư đoàn 10; cơ quan quản lý người có công thành phố Hà Nội; các Ban Chỉ đạo 515 và đơn vị quân đội có liên quan để đối chiếu toàn bộ hồ sơ về liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp.
Trước hết, cần xác minh chính xác năm sinh, thời điểm nhập ngũ, cấp bậc, chức vụ, đơn vị và ngày hy sinh; làm rõ ký hiệu “DMT” trên giấy báo tử; kiểm tra danh sách quân nhân của Đại đội 17, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 400, Đặc công B3; đối chiếu danh sách 12 cán bộ, chiến sĩ hy sinh ngày 21/4/1971 với hồ sơ tác chiến và báo cáo thương vong của đơn vị.
Cùng với đó, cần rà soát các đợt tìm kiếm, cất bốc và quy tập hài cốt liệt sĩ tại khu vực Đăk Tô – Tân Cảnh, đặc biệt là quanh trận địa pháo Đăk Tô 2. Nếu hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp đã được quy tập, gia đình mong được cung cấp thông tin để đến thắp hương, thực hiện việc giám định ADN khi cần thiết và đưa ông về quê hương. Nếu chưa được quy tập, gia đình đề nghị khoanh vùng trận địa, xây dựng kế hoạch khảo sát, tìm kiếm hài cốt của cả 12 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong trận đánh.
Gia đình cũng mong những thông tin sau khi được xác minh sẽ được đính chính, bổ sung thống nhất trong hồ sơ người có công, cơ sở dữ liệu quốc gia và các nền tảng dữ liệu điện tử có liên quan. Trả lại cho một liệt sĩ hồ sơ đúng và đầy đủ không chỉ là thủ tục hành chính. Đó là trả lại cho người đã khuất tên tuổi, đơn vị, chiến công và nơi ông đã hiến dâng tuổi trẻ của mình.
Ở một nơi nào đó quanh trận địa Đăk Tô 2, có thể vẫn còn dấu tích của 12 người lính đặc công đã ngã xuống trong trận đánh ngày 21/4/1971. Gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp chỉ mong những dữ liệu rời rạc sớm được nối lại, những sai lệch trong hồ sơ được làm sáng tỏ và một ngày không xa, người con của quê hương Thường Tín sẽ tìm được đường trở về với gia đình, trong vòng tay của đất mẹ.
Hà Nội, 08/9/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên Dự án TTU–VWAI)
