Hoa cải bên dòng phù sa

Mùa xập xòe qua bến nước. Sáng sớm, bầu trời xứ mương vườn ẩm ương như lòng người nhiều hoài niệm. Gió bấc rục rịch chuẩn bị thổi về, kéo theo những cơn mưa dai dẳng từ lúc bình minh ló dạng cho đến non trưa, rồi tản mác rỉ rả suốt cả buổi chiều.

Minh họa: Lý Long

Minh họa: Lý Long

Hôm ấy, qua màn mưa bong bóng mỏng tanh, tôi thấy má tôi bơi chiếc xuồng ba lá sang bên kia sông. Má tấp xuồng vào cái bãi bồi, nơi có mấy khóm hoa dại màu vàng rực bám chặt vào lớp bùn nhão. Má cầm chiếc thúng mây bước lên bờ, dùng cái dầm xới từng vốc đất phù sa màu mỡ đợt lũ vừa bồi đắp. Sau một mùa khô xém da xém thịt, lòng sông lại hào phóng ban tặng thứ mật ngọt của đất trời. Má ôm từng thúng phù sa nặng trịch xuống xuồng, gập người chèo trở về bên này.

Dưới bến sông quen thuộc, má tỉ mẩn vun đất thành từng giồng chạy song song, thẳng tắp. Tôi biết, chỉ ít ngày nữa thôi, khi cái lạnh sắt se tràn về, trên những luống đất này sẽ mọc lên xanh tốt những cải, cà, đậu, bầu, bí... để kịp mang ra chợ phiên ngày tết.

* * *

Từ lúc mở mắt chào đời và bắt đầu có ký ức, tôi đã quen với dáng hình khập khễnh của má. Một bên chân má bị tật sau một trận sốt rét rừng ngặt nghèo thời con gái, khiến bước đi của má luôn nghiêng lệch, khệnh khạng. Những ngày thơ bé, tôi không lấy gì làm vui vẻ, nếu không muốn nói là luôn cảm thấy sợ hãi và ám ảnh mỗi khi đến trường. Lớp học làng nghèo nàn, tôi chọn ngồi lủi thủi ở một góc bàn cuối cùng, lặng lẽ như một cái bóng.

Mỗi khi tiếng trống tan trường vang lên tôi ôm chặt chiếc cặp sách trước ngực, lẽo đẽo đi sau cùng đám bạn. Trên con đường đất cong cong có hàng cây còng rợp bóng nắng, tôi cố tình đi thật chậm để khoảng cách giữa tôi và lũ trò nhỏ phía trước xa dần. Tôi cảnh giác, lo sợ, bởi cứ hễ ở gần, chúng nó lại quay lại xỉa xói, chế giễu tôi bằng những từ ngữ tàn nhẫn của trẻ con: “Con bà thọt!”.

Những lời nói đó châm vào lòng tôi như những mũi kim.

Trái ngược với sự thu mình đau đớn của tôi, má lại điềm nhiên đến lạ:

- Đời má chịu tật nguyền thì má nhận, miễn má sống tử tế, không làm điều gì xấu xa tệ bạc với ai thì việc gì phải lảng tránh hả Út?

* * *

Mặc kệ những đời người thoi đưa và lời gièm pha của thế thái nhân tình, má tôi vẫn lặng lẽ đi về trên con đường rợp bóng cây còng. Chiếc đòn gánh tre đực trên vai má kĩu kịt, trĩu nặng gánh rau, củ mưu sinh. Bóng má đổ dài trên con đường nửa sáng, nửa tối mịt khi hoàng hôn đang lịm dần sau rặng dừa.

Một chiều nọ, ngồi trong nhà nhìn ra, thấy dáng má xiêu vẹo dưới gánh hàng nặng, lòng tôi thương đứt ruột. Tôi òa chạy ra đỡ lấy cái đòn gánh trên vai má. Không kìm được sự tủi thân tích tụ bấy lâu, tôi gục đầu vào ngực má, bật khóc nức nở như một đứa trẻ bị tước mất đồ chơi:

- Má ơi! Con không muốn đi học nữa. Má cho con nghỉ học đi, con đi làm mướn phụ má. Con không sợ cực, con chỉ sợ người ta cười chê má con mình...

Má tôi lặng đi trong khoảnh khắc. Không gian như ngưng đọng. Tay má run run, khẽ khàng lau đi những giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má lem luốc vết thồ hàng của tôi. Má nhìn tôi đăm đăm:

- Má hiểu lòng con, Út à. Nhưng má không bao giờ muốn con phải sớm lao vào cuộc mưu sinh nghiệt ngã này. Con mà bỏ học, rồi đời con sẽ lại khổ, lại quẩn quanh trong cái nghèo, cái khó dài dằng dặc như đời má...

Tôi úp mặt vào ngực má, hít hà mùi mồ hôi nắng cháy, mùi rơm rạ đồng chiều quyện lẫn mùi khói bếp thoảng ra từ chiếc áo nâu sờn rách, vá chằng vá đụp. Mùi hương ấy nồng nã, quen thuộc và thiêng liêng đến mức cả đời này tôi biết mình chẳng thể nào quên được.

Thấy má quá cực nhọc, lòng tôi không đành. Dưới hàng cây còng đang sẫm đen trong bóng chiều nhập nhạng, một tay tôi gánh cố định chiếc đòn gánh trên vai mình, tay kia nắm chặt lấy bàn tay thô ráp đầy vết chai sạn của má, hai má con chầm chậm bước về phía làng. Con đường cong cong ngoằn ngoèo những rễ cây còng đồ sộ oằn mình cõng biết bao phận đời nghèo khó, chứng kiến từng đổi thay, mất mát của cái cù lao nhỏ bé này.

* * *

Tôi không bao giờ đợi những ngày gió bấc về. Bởi vì mỗi khi gió bấc hanh hao thổi qua bến sông, cái chân tật nguyền của má lại đau buốt đến tận xương tủy. Đêm trời trở lạnh, tôi giật mình thức giấc, quấn thêm chiếc áo bông cũ vào người. Bên gian buồng của má, tiếng sụt sùi nén chặt vì nhức nhối vết sẹo xưa cứ văng vẳng qua tấm rèm vải chắp vá.

Tôi rón rén bước sang. Tấm che cửa buồng của má là mảnh chăn cũ đã rách bươm phần chân. Tôi khe khẽ vén một góc che, nhìn vào trong. Chiếc đèn dầu tù mù hắt lên vách đất một bóng hình tội nghiệp: má đang dùng một sợi dây thừng móc treo cái chân tật nguyền không lành lặn của mình lên xà nhà để giảm bớt cơn co rút.

Tim tôi như vỡ ra thành ngàn mảnh. Má khẽ đằng hắng, tôi giật mình làm rơi chiếc đèn pin xuống nền đất. Má bàng hoàng quay lại nhìn tôi, ánh mắt bối rối như kẻ làm sai bị phát hiện.

Lúc ấy, lòng tôi đớn đau không sao tả nổi. Tôi lao ngay ra bếp nhen lửa. Trời bấc ẩm ướt, củi mục lâu bén lửa khiến khói nghi ngút làm mắt tôi cay xè, nước mắt tràn ra gò má. Tôi đun một ấm nước thật sôi, rót vào chiếc chai thủy tinh tròn rồi bịt kín miệng bằng xơ dừa. Má nằm soãi chân trên chiếc gối kê cao, tôi cẩn thận lăn tới lăn lui chiếc chai thủy tinh ấm áp trên cái chân co quắp của má.

Vết thương từ cơn sốt rét và những lần té ngã năm xưa tuy đã lành mặt nhưng phần xương tủy bên trong vẫn sưng tấy lên mỗi khi tiết trời thay đổi hay những lúc má đi gánh hàng quá sức.

- Nhìn chân má thế này, con thương má quá... - Tôi thút thít.

Má tôi lại cười hề hà:

- Ai sinh ra cũng có cái số hết con ơi! Buồn làm gì hở Út? Số má nó vậy rồi, đành chịu thôi!

Trái ngược với sự cam chịu bình thản của má, lòng tôi nuôi một niềm uất nghẹn và khát khao chống lại số phận. Tôi thương má, và tôi oán ba.

Tôi luôn tự hỏi: Cớ sao ba lại có thể tàn nhẫn và lạnh lùng với má con tôi đến thế? Trong khi má vẫn một lòng thờ chồng nuôi con, vẫn mỏi mòn đợi ba, chưa từng thốt ra một lời trách cứ người đàn ông đã bỏ rơi hai mẹ con trong một chiều gió bấc thổi xấp xõa trên ngọn dừa.

* * *

Đã nhiều lần tôi trốn học, lén đón xe đò đi tìm ba. Tôi định bụng nếu gặp được ba, tôi sẽ đứng trước mặt ông mà hỏi cho ra lẽ.

Một lần, má tìm thấy tôi ở mãi đầu làng bên cạnh khi tôi đang lang thang hỏi thăm tin tức. Biết tôi bỏ học đi tìm ba, má giận đến mức vơ lấy cây roi củi quất tới tấp vào lưng tôi. Tay má run lên bần bật, mặt má đỏ gắt như ánh hoàng hôn đang đốt cháy cả cánh đồng. Tôi không bước đi nửa bước, cũng không đỡ lấy đòn roi. Tôi đứng lặng như tượng đá, cắn chặt môi chịu đựng từng vết roi của má. Lạ thay, tôi không thấy đau ở thể xác, chỉ thấy một nỗi xót xa dâng ngập lồng ngực.

Má quăng cây roi xuống đất, gục xuống rồi choàng tay ôm chặt lấy tôi vào lòng. Má khóc nghẹn ngào, những giọt nước mắt nóng hổi rớt xuống cổ tôi:

- Út ơi! Con ơi! Người ta đã đành lòng bỏ má con mình đi từ ngày đó rồi, thì con còn đi tìm kiếm làm cái gì nữa hả Út?

Má mếu máo, trút ra tất cả những nỗi niềm đè nén suốt bấy nhiêu năm trời.

Sau lần đó, tôi không bao giờ đi tìm ba nữa. Và ba tôi cũng chẳng bao giờ trở về.

* * *

Thời gian chầm chậm thoi đưa như dòng nước êm đềm trôi qua bến vắng. Cây dừa cạnh con mương nước chảy róc rách sau nhà hồi nào còn bé xíu, cao ngang ngực tôi, nay đã vươn cao vút và cho ra những quầy trái sai trĩu.

Tôi học xong tiểu học, rồi lên trung học cơ sở. Nhờ sự nỗ lực không ngừng, tôi luôn là học sinh giỏi của trường. Cô giáo thương tôi lắm, đám bạn trong lớp cũng dần nể phục và không còn trêu chọc tôi là “con bà chân thọt” nữa, trừ hai đứa đầu gấu là thằng Hùng và thằng Quý vẫn thỉnh thoảng buông lời ác ý.

Những lúc ấy, tôi làm thinh. Tôi nhớ lời má dặn: “Có những chuyện trong đời này mình chẳng cần phải phân trần hay lý giải nhiều làm gì. Chỉ cần mình sống tốt, sống đàng hoàng thì trời sẽ thương”.

Má tôi sống đúng như vậy. Cả đời má chưa từng làm phật lòng bất kỳ ai trong cái làng này.

Tôi nhớ năm tôi học lớp ba, đang ngồi trong giờ học toán, bỗng nhiên có tiếng chú hàng xóm hớt hơ hớt hải chạy vào trường. Ngôi trường tiểu học làng ngày ấy còn đơn sơ, chẳng có rào chắn. Chú chạy thẳng đến cửa lớp tôi, thở hồng hộc, mặt cắt không còn một hột máu:

- Út ơi! Về ngay con! Má con bị xe bò đụng ngoài đường lớn, ngất xỉu không còn biết trời đất gì nữa rồi!

Tôi điếng người, chạy thục mạng theo chú ra trạm y tế xã, rồi ôm lấy má trên chiếc xe cấp cứu xóc nảy lên tận bệnh viện huyện, rồi chuyển thẳng ra tỉnh.

Sau nhiều giờ phẫu thuật, bác sĩ lắc đầu thông báo: để cứu lấy tính mạng, má tôi buộc phải cắt bỏ một bên bàn chân còn lại do vết thương bị dập nát quá nặng...

Mấy ngày đầu đón má từ viện về nhà, nhìn đôi chân má giờ đây không còn lành lặn, tôi không sao quen được. Tôi gục đầu vào lòng má, thút thít:

- Con thương cái chân kia của má quá...

Má cười:

- Ừ, thương thì thương thật con ạ, nhưng nó đã không ở lại được với mình thì để cho nó đi yên lành. Đâu phải cái gì mình muốn giữ là cũng giữ được đâu con?

Lúc đó tôi còn quá nhỏ để hiểu hết sự thâm trầm trong câu nói ấy. Nếu là tôi của những năm tháng sau này, có lẽ tôi sẽ hỏi lại má rằng: “Cũng như ba, phải không má? Muốn giữ mà người ta có muốn ở đâu...”.

* * *

Tôi ngồi im lặng nhìn vệt khói chiều tỏa ra từ gian bếp, thoảng mùi cơm mới thơm phức mà lòng dạt dào một nỗi cay đắng khôn nguôi.

Bây giờ, tôi đã lớn khôn. Chiều chiều, tôi lại ra ngồi ngoài hàng ba ngắm má. Trong thâm tâm tôi, má luôn là người đàn bà đẹp nhất và vĩ đại nhất mà tôi từng được gặp trong đời.

Sau khi chở xong mấy thúng đất phân từ bên sông về cho các giồng cải, giồng đậu, giồng cà, giồng khoai... má khom người xuống bến sông rửa sạch tay chân dính đầy bùn đất rồi chậm rãi bước lên nhà. Đến trước sân, thấy tôi cứ dán mắt nhìn mình, má tươi cười hỏi:

- Làm gì mà mày nhìn má dữ vậy Út? Bộ má đẹp lắm sao?

Tôi gật đầu lia lịa, lòng đầy tự hào:

- Đẹp! Má của con đẹp thiệt mà!

Má xua tay cười râm ran:

- Con nhỏ này khéo dẻo miệng. Má già nua, tật nguyền thế này rồi đẹp nỗi gì nữa?

Thật lòng, tôi thấy má mình vẫn còn xuân sắc lắm. Cái xuân sắc ấy không nằm ở làn da hay dáng đi, mà nó đằm thắm trong ánh mắt hiền từ, trong tâm hồn kiên cường chưa bao giờ gục ngã qua bao cuộc bão giông của cuộc đời.

Những giồng cải má vun hôm nay, không bao lâu nữa sẽ sớm lên xanh mướt. Bao giờ cũng vậy, má luôn để lại một góc vườn cho cải trổ những chùm hoa vàng rực rỡ. Nhưng dường như, má đợi hoa cải nở không chỉ vì nó đẹp hay để ngắm nhìn mỗi sớm chiều. Hoa cải vàng như một ngọn lửa ấm áp mà má thắp lên bên bến sông này, lặng lẽ chờ đợi một người tìm về căn nhà xưa, với những yêu thương tuy đã cũ kỹ nhưng chưa bao giờ vơi bớt trong lòng người đàn bà bao dung.

* * *

Chiều nay, nắng vàng trải nhẹ trên mặt sông lăn tăn sóng. Luống cải mới gieo chưa kịp xanh lá và gió bấc vẫn chưa chính thức về làm da thịt người ta sắt se. Vẫn như mọi ngày, má quanh quẩn ngoài sân, sau vườn, chăm xới từng gốc cây, búp hoa sau khi để chiếc đòn gánh nghỉ ngơi nơi góc hiên. Chiếc đòn gánh tre bóng nước, oằn đi theo năm tháng, tuy nhỏ bé nhưng chính nó đã gánh cả cuộc đời tôi, gánh trọn ước mơ gieo chữ của má.

Nắng muộn hắt lên hàng ba, má ngồi bên song cửa chải tóc. Tóc má dài, mượt mà và ngát thơm hương hoa bưởi vườn nhà. Tôi bước lại gần, nhặt mấy sợi tóc rối rụng trên vai má, rồi nhón chân vắt lên mái nhà lá đã mục dần theo thời gian – một thói quen từ thời thơ bé.

Thoáng thấy phía bên kia sông, dưới những tia nắng long lanh cuối ngày đang tan dần trên mặt nước, có một bóng người đứng thẫn thờ ngóng vọng về bên này bến. Bóng hình ấy gầy guộc, đứng tựa vào gốc cây dại, ánh mắt xa xăm trông đầy niềm nỗi và cay đắng của một đời dạt trôi...

Phạm Khánh Duy .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/hoa-cai-ben-dong-phu-sa-473166.html