Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá sơ bộ một số sản phẩm gỗ của Việt Nam
Các công ty bị đơn bắt buộc chịu mức thuế chống bán phá giá là 191,85% - 194,80%. 50 công ty được hưởng thuế suất riêng rẽ: 193,32%. Thuế suất toàn quốc là 193,32%...

Ảnh minh họa.
Ngày 2/3/2026, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết vừa nhận được thông tin về việc Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) ban hành kết luận sơ bộ vụ việc điều tra chống bán phá giá với sản phẩm gỗ dán và gỗ trang trí nhập khẩu từ Việt Nam.
Trước đó, Hiệp hội thương mại công bằng với gỗ dán cứng Hoa Kỳ đã cáo sản phẩm gỗ dán và gỗ trang trí nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia bán phá giá tại thị trường này và được trợ cấp.
Theo số liệu do nguyên đơn viện dẫn từ nguồn của Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC), trong giai đoạn 2022-2024, Việt Nam xuất khẩu lần lượt khoảng 401 triệu USD, 186 triệu USD và 244 triệu USD sản phẩm bị điều tra sang Hoa Kỳ, đứng vị trí thứ 2 trong 3 nước bị điều tra, sau Indonesia. Nguyên đơn nêu tên gần 100 công ty của Việt Nam.
Thời kỳ điều tra: 01/10/2024 - 31/3/2025.
Theo kết luận sơ bộ vừa ban hành, mức thuế chống bán phá giá sơ bộ (sau khi đã bù trừ đi phần thuế trợ cấp xuất khẩu theo quy định của Hoa Kỳ) như sau:
Các công ty bị đơn bắt buộc chịu mức thuế chống bán phá giá là 191,85% - 194,80%. 50 công ty được hưởng thuế suất riêng rẽ: 193,32%. Thuế suất toàn quốc: 193,32% (bằng với mức thuế suất riêng rẽ).
Mức thuế này cao hơn mức áp dụng đối với Trung Quốc (185,96%) và cao hơn đáng kể so với Indonesia (38,27%) – hai nước cùng bị điều tra trong vụ việc này.
Nguyên nhân dẫn đến mức thuế này theo Cục Phòng vệ Thương mại là do DOC lựa chọn quốc gia thay thế là Indonesia theo đề xuất của nguyên đơn (phía bị đơn đề xuất lựa chọn quốc gia thay thế là Philippines). Ngoài ra, DOC áp dụng dữ liệu bất lợi sẵn có (AFA) toàn bộ hoặc một phần đối với các bị đơn.
Trong quá trình điều tra, nguyên đơn cáo buộc rằng đã có sự gia tăng nhập khẩu với khối lượng lớn đối với sản phẩm gỗ dán cứng và trang trí từ Việt Nam trong một khoảng thời gian tương đối ngắn kể từ khi đơn kiện được nộp, và đã cung cấp dữ liệu nhập khẩu theo tháng để so sánh giai đoạn cơ sở từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2025 với giai đoạn so sánh từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2025.
DOC đã so sánh khối lượng hàng hóa bị điều tra do công ty bị đơn xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2024 đến tháng 5 năm 2025 (giai đoạn so sánh) với khối lượng hàng hóa bị điều tra của hai công ty này xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2025 (giai đoạn cơ sở).
Căn cứ vào phân tích dữ liệu, DOC xác định rằng không có sự gia tăng ồ ạt về nhập khẩu trong giai đoạn so sánh, do lượng nhập khẩu không tăng từ 15% trở lên so với lượng nhập khẩu trong giai đoạn cơ sở.
Vì vậy, DOC sơ bộ kết luận rằng không có hiện tượng nhập khẩu ồ ạt đối với hàng hóa bị điều tra của 02 công ty bị đơn bắt buộc trong một khoảng thời gian tương đối ngắn và không áp thuế hồi tố.
Các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sẽ phải thực hiện nộp tiền đặt cọc thuế ngay khi phán quyết sơ bộ được đăng trên Công báo Liên bang (dự kiến trong vài ngày tới).
Ngoài ra, DOC cũng cho phép các bên nộp bình luận và phản biện đối với các thông tin trong vụ việc. Thời hạn để nộp bình luận trong vòng 7 ngày kể từ ngày báo cáo thẩm tra của DOC được ban hành và đối với phản biện là 5 ngày sau đó. DOC cũng cho phép các bên gửi bình luận đối với phạm vi sản phẩm trong kết luận sơ bộ.
Tiếp đó, trong trường hợp có đề nghị tổ chức Phiên điều trần, các bên phải nộp đề nghị bằng văn bản trong vòng 30 ngày kể từ ngày đăng công báo kết luận sơ bộ.
Bên cạnh đó, theo quy trình điều tra, sau khi có kết luận sơ bộ, DOC sẽ tiến hành thẩm tra tại chỗ doanh nghiệp Việt Nam để xác minh thông tin cung cấp.
Dự kiến, kết luận cuối cùng được ban hành sau 135 ngày kể từ ngày đăng công báo kết luận sơ bộ.
Nhằm đạt được kết quả tích cực trong kết luận cuối cùng, Cục Phòng vệ Thương mại khuyến nghị các doanh nghiệp liên quan theo sát diễn biến của vụ việc và tiếp tục hợp tác đầy đủ với DOC do cơ quan này vẫn có thể thay đổi mức thuế tại kết luận cuối cùng.











