Hoa trên sóng Lạch Bạng (Bài 2): Thành viên nữ duy nhất của Đội công binh cảm tử rà phá bom mìn

Bên cửa biển Lạch Bạng, những cô gái Hải Bình năm xưa đã gửi tuổi xuân vào những chuyến tải đạn ra đảo Hòn Mê cùng những lần đối mặt với bom chưa nổ, những bữa cơm dành phần cho bộ đội. Mỗi người một công việc, một cảnh đời, cùng góp sức giữ làng, giữ biển qua những năm tháng chiến tranh. Hôm nay, khi mái tóc đã bạc, chuyện các bà kể đưa chúng tôi trở lại một thời tuổi trẻ gan góc mà giàu thương yêu. Từ những cuộc đời bình dị ấy, vẻ đẹp của người phụ nữ làng biển vẫn bền bỉ tỏa hương, như hoa trên sóng Lạch Bạng.

Bà Hoàng Thị Ninh (SN 1946), ở phường Hải Bình kể về những năm tháng là thành viên nữ duy nhất trong đội phá bom cảm tử của địa phương.

Bà Hoàng Thị Ninh (SN 1946), ở phường Hải Bình kể về những năm tháng là thành viên nữ duy nhất trong đội phá bom cảm tử của địa phương.

Bà Hoàng Thị Ninh từng cùng hai cán bộ xã đội xử lý quả bom 1 tấn rơi xuống đồng Chon (xã Hải Bình cũ). Chồng bà - ông Hoàng Văn Xuân, cũng có những năm tháng làm dân quân, chèo thuyền tải lương, tiếp đạn giữa bom rơi, đạn nổ. Gặp hai ông bà hôm nay, câu chuyện tuổi trẻ giữ làng, giữ biển còn nối sang một mối duyên từ những ngày cùng sinh hoạt Đoàn, rồi nên vợ nên chồng giữa chiến tranh.

Người phụ nữ trong đội phá bom cảm tử

Ở góc sân Nhà văn hóa tổ dân phố Liên Thịnh cũ (phường Hải Bình), ba đứa trẻ ríu rít hết leo lên vỏ quả bom lớn rồi nhảy xuống, lại tranh nhau ngồi vắt vẻo. Với chúng, đó là “món đồ chơi” quen thuộc sau giờ tan học. Những hôm làng có việc, người lớn lại ngồi lên khối thép ấy nghỉ chân, chuyện trò. Vỏ quả bom nặng 1 tấn đã ở lại với làng như thế, sau lần bà Hoàng Thị Ninh cùng hai đồng đội tháo ngòi nổ năm 1968.

Người phụ nữ từng tháo ngòi quả bom ấy nay đã tám mươi tuổi, bước chân không còn nhanh nhẹn. Trong căn nhà nhỏ, bà Ninh ngồi bên chồng - ông Hoàng Văn Xuân, nguyên Phó Bí thư Xã đoàn Hải Bình, nhắc lại kỷ niệm về một thời tuổi trẻ. Kể đến lần đối mặt với quả bom, bà giơ đôi bàn tay gầy diễn tả từng thao tác tháo ngòi, thỉnh thoảng quay sang chồng để cùng nhớ lại một tên người, tên đất thuở bom rơi đạn nổ. Trên bàn, cuốn Địa chí xã Hải Bình và tập hồ sơ ố vàng được mở ra. Hai ông bà vừa kể, vừa giở những trang sách, đối chiếu chuyện mình nhớ với những dòng ghi chép về năm tháng ấy.

Bà Hoàng Thị Ninh cùng chồng ôn lại những năm tháng tham gia công tác ở địa phương.

Bà Hoàng Thị Ninh cùng chồng ôn lại những năm tháng tham gia công tác ở địa phương.

Những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vùng biển Hải Bình là điểm chốt giao thông đặc biệt quan trọng. Đường bộ qua cầu Dừa, đường thủy theo lạch qua bến đò Dừa ra đảo Hòn Mê, nơi tập trung hàng trăm thuyền bè chở gạo, vũ khí, đạn dược chi viện cho chiến trường. Không lực Mỹ vì thế liên tục trút vô số bom đạn nhằm cắt đứt tuyến đường độc đạo này.

Khi xã thành lập đội công binh cảm tử rà phá bom mìn, bà Ninh xung phong tham gia. Đội có ba người: Xã đội trưởng Nguyễn Văn Tịnh, Xã đội phó Trần Văn Tòa và bà - người phụ nữ duy nhất

Khi ấy, bà Ninh vừa làm giao liên quân báo, vừa tham gia đội nữ du kích xã. Công việc thường xuyên là nhận và truyền mật lệnh trong đêm. Bà nhớ lại: “Thời ấy làm gì có điện thoại hay xe máy như bây giờ. Cứ đúng 7 giờ tối là phải có mật lệnh. Mật lệnh thay đổi theo từng ngày, ví dụ bên hỏi ‘Nhân’, bên đáp ‘Dân’ thì mới là người nhà. Chỉ cần một sơ suất nhỏ hay lộ mật lệnh, cả tuyến đường thủy vận bị đe dọa ngay”.

Theo lời bà kể, năm 1964, người anh trai là kỹ sư điện máy hải quân hy sinh tại vùng biển quê nhà. Trước đó, anh để lại cho bà cuốn tài liệu kỹ thuật về cơ chế hoạt động của bom mìn. Bà giữ gìn, tìm đọc để hiểu thêm cấu tạo ngòi nổ. Khi xã thành lập đội công binh cảm tử rà phá bom mìn, bà xung phong tham gia. Đội có ba người: Xã đội trưởng Nguyễn Văn Tịnh, Xã đội phó Trần Văn Tòa và bà - người phụ nữ duy nhất.

Vỏ quả bom năm xưa, nay thành “món đồ chơi” quen thuộc cho đám trẻ làng biển.

Vỏ quả bom năm xưa, nay thành “món đồ chơi” quen thuộc cho đám trẻ làng biển.

Năm 1968, quả bom nặng một tấn rơi xuống đồng Chon, thuộc HTX Đoan Hùng, nhưng không nổ. Người đi chợ, làm đồng được thông báo phải tránh khu vực nguy hiểm. Cuốn Địa chí xã Hải Bình ghi: “Chị Ninh mới được huấn luyện 7 ngày ở huyện về đã xung phong tháo ngòi nổ”.

Bà kể: “Mỗi lần bom rơi, trách nhiệm của đội công binh là trong vòng 3 đến 5 ngày phải giải phóng hiện trường để dân đi làm. Ba người chúng tôi tập hợp lại, mở tài liệu đọc kỹ cơ chế ngòi nổ rồi lặng lẽ đi ra cánh đồng. Ra đó là xác định ‘hên xui’, quả bom mà nổ thì cả 3 người cùng hy sinh”.

Hỏi có sợ không, bà thừa nhận có. Gia đình đã mất một người con trong chiến tranh, nay bà tiếp tục nhận công việc có thể khiến mình không trở về. Nhưng bà cũng là người làm muối, hiểu một buổi phải bỏ đồng ảnh hưởng thế nào đến bữa ăn, sinh hoạt của từng nhà. Những người chờ quả bom được xử lý là bà con, hàng xóm, những người hằng ngày cùng bà làm lụng. Được huấn luyện, được giao nhiệm vụ, bà thấy mình có trách nhiệm góp sức để họ sớm trở lại công việc.

Cuốn Địa chí xã Hải Bình ghi: “Chị Ninh mới được huấn luyện 7 ngày ở huyện về đã xung phong tháo ngòi nổ”

Lần ấy, cả ba người đều trở về, không ai bị thương. Vỏ quả bom được người dân Liên Thịnh giữ lại như một dấu tích thời chiến. Hai đồng đội nay đã mất, bà Ninh vẫn còn - để kể về lần họ cùng bước ra đồng Chon năm ấy.

Trong chiến đấu nên duyên vợ chồng

Cùng bà đi qua những năm tháng chiến tranh là ông Lê Văn Xuân (sinh năm 1944), Phó Bí thư Xã đoàn Hải Bình, từng tham gia dân quân, du kích. Từ những buổi sinh hoạt Đoàn, những ngày cùng làm nhiệm vụ, hai người gắn bó rồi nên vợ nên chồng. Ngồi bên vợ, ông kể về lần chèo thuyền ra nơi máy bay Mỹ rơi giữa làn đạn giao chiến.

Ông Hoàng Văn Xuân chia sẻ những kỷ niệm về thời trẻ của vợ - bà Hoàng Thị Ninh.

Ông Hoàng Văn Xuân chia sẻ những kỷ niệm về thời trẻ của vợ - bà Hoàng Thị Ninh.

Sự việc được ghi trong Địa chí xã Hải Bình: “Ngày 14/3/1966, một máy bay A4D bị bộ đội cao xạ bắn cháy ở khu vực cầu Đòi rồi lao ra biển. Khi máy bay và tàu chiến Mỹ đến ứng cứu phi công, tổ dân quân du kích do ông Nguyễn Minh Ứng làm tổ trưởng đã chèo thuyền ra hiện trường. Trên thuyền, ngoài ông Xuân còn có các ông Hồ Ngọc Tạo, Lê Xuân Êm, Nguyễn Văn Mừng và Đỗ Văn Hưởng. Dù không bắt được phi công, tổ vẫn được biểu dương; tập thể và từng thành viên được Tỉnh đội cấp giấy khen”.

Bà Ninh nhớ hôm ông Xuân cùng đồng đội chèo thuyền ra biển, mình đang làm muối. Hỏi khi ấy đã lấy nhau chưa, ông bà dừng lại cùng nhớ rồi xác nhận: Đó là trước ngày cưới.

Cùng quê, cùng sinh hoạt Đoàn ở xã, họ quen nhau qua những buổi sinh hoạt thanh niên và những lần làm nhiệm vụ. Hai người kết hôn năm 1967, ông hơn bà hai tuổi. Chuyện tình yêu của họ đan cài trong khói lửa chiến tranh, giữa những bận bịu của nhiệm vụ địa phương. Hỏi về ngày cưới, ông bà nhắc đến phong trào Đoàn; hỏi về trận chiến ngoài khơi, ánh mắt lại hướng về nhau để nhớ xem khi ấy người kia đang ở đâu.

Cuộc trò chuyện với vợ chồng bà Hoàng Thị Ninh, ông Hoàng Văn Xuân tại nhà riêng ở phường Hải Bình.

Cuộc trò chuyện với vợ chồng bà Hoàng Thị Ninh, ông Hoàng Văn Xuân tại nhà riêng ở phường Hải Bình.

Nhìn lại những năm tháng đã qua, có lúc chính bà Ninh cũng thấy mình thật “liều lĩnh”. Nhưng giữa lằn ranh sinh tử ấy, mọi hành động của người nữ du kích chưa từng xuất phát từ điều gì to tát - đó chỉ là mệnh lệnh của trái tim và nhu cầu bức thiết của đời sống: Có mật lệnh cần truyền đi trong đêm, có thương binh cần băng bó, và có quả bom tấn cần dọn sạch để diêm dân kịp trở lại đồng muối, để nhịp sống của làng biển không bị cắt đứt.

... người con trai ngồi lặng lẽ nghe bố mẹ ôn chuyện cũ, để thấy lịch sử không chỉ nằm trên những trang Địa chí, mà đang sống dậy trọn vẹn trong hơi thở và ánh mắt của đấng sinh thành

Từ những năm tháng sục sôi thanh xuân ấy, những người trẻ chung màu áo Đoàn ngày nào đã cùng nhau gây dựng một gia đình bình dị, đi trọn vẹn nghĩa tình sắt son qua gần sáu mươi năm cuộc đời. Giữa căn nhà nhỏ, người con trai ngồi lặng lẽ nghe bố mẹ ôn chuyện cũ, để thấy lịch sử không chỉ nằm trên những trang Địa chí, mà đang sống dậy trọn vẹn trong hơi thở và ánh mắt của đấng sinh thành.

Giữa cảnh mất nhà, thiếu ăn, nữ dân quân du kích Nguyễn Thị Ứng vẫn đinh ninh lời mẹ chồng dặn: Phần lương thực của bộ đội phải giữ để bàn giao. Đó là chuyện sẽ có trong bài cuối về những nữ dân quân du kích Hải Bình năm xưa - những người còn ở lại!.

Tăng Thúy

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/hoa-tren-song-lach-bang-bai-2-thanh-vien-nu-duy-nhat-cua-doi-cong-binh-cam-tu-ra-pha-bom-min-305870.htm