Hoàn thiện chính sách để Việt Nam sớm gia nhập thị trường CCS 40 tỷ USD
Việc sớm hoàn thiện các chính sách dưới Luật Dầu khí (sửa đổi) sẽ góp phần giúp Việt Nam sớm gia nhập thị trường dịch vụ CCS khu vực Đông Nam Á với quy mô lên tới 40 tỷ USD.

Giàn khoan khai thác dầu khí của Petrovietnam. Ảnh: Minh Trang/Bnews/vnanet.vn
Với tiềm năng kinh tế của dịch vụ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí, việc sớm hoàn thiện các chính sách dưới Luật Dầu khí (sửa đổi) sẽ góp phần thu hút đầu tư và triển khai các dự án CCS, từ đó giúp Việt Nam sớm gia nhập thị trường dịch vụ CCS khu vực Đông Nam Á với quy mô lên tới 40 tỷ USD.
*Chậm hơn trong “cuộc đua” CCS khu vực
Theo ông Bùi Đào Thái Trường, Tổng Giám đốc Roland Berger Việt Nam, thị trường dịch vụ CCS là thị trường mới và có nhiều cơ hội mới nhưng Việt Nam hiện còn chậm trong “cuộc đua” vào thị trường tiềm năng này so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Hiện Malaysia và Indonesia đã có những chính sách, định chế về thu giữ carbon, có luật về CCS từ năm 2025. Các quốc gia này cũng đã có dự án hợp tác khai thác CCS và gia nhập thị trường giao dịch carbon xuyên biên giới.
Cũng theo ông Bùi Đào Thái Trường, Việt Nam có lợi thế đáng kể từ các mỏ dầu khí đã cạn kiệt, có thể trở thành địa điểm phục vụ các dự án CCUS (công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO2). Bên cạnh đó, Luật Dầu khí (sửa đổi) là điều kiện cần để Việt Nam khai thác tốt hơn các tiềm năng này và rút ngắn khoảng cách với các quốc gia trong khu vực.
Trong khi đó, ông Hà Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực Chi hội Dầu khí Hà Nội cho rằng, thu giữ và lưu trữ carbon là lĩnh vực còn mới không chỉ đối với Việt Nam mà trên phạm vi thế giới. Những quy định liên quan đến CCS đã bước đầu được đưa vào Luật Dầu khí (sửa đổi) song mới dừng ở mức khung, trong khi nhiều nội dung cụ thể cần tiếp tục hoàn thiện. “Để triển khai được các công nghệ này, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề, từ pháp lý, kỹ thuật đến tài chính và môi trường”, ông Tuấn chia sẻ.
Cùng quan điểm này, Tiến sĩ Trần Quốc Việt, nguyên Chủ tịch Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)-đơn vị thành viên của của Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) nhấn mạnh cần xác định rõ CCS là lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp hay là nhiệm vụ có sự tham gia, hỗ trợ của Nhà nước. Thực tế cho thấy việc triển khai dự án CCS không đơn thuần là thu gom CO₂ từ nhà máy rồi vận chuyển đến nơi lưu trữ, mà doanh nghiệp phải đầu tư hệ thống công nghệ, thiết bị thu gom, vận chuyển, bơm ép, lưu trữ và giám sát. Với quy mô như vậy, nếu doanh nghiệp đầu tư dự án CCS trong điều kiện hiện nay, rủi ro có thể rất cao.
Theo đánh giá của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI)-đơn vị thành viên của Petrovietnam, Việt Nam có tiềm năng lưu trữ CO2 trong các mỏ dầu khí cạn kiệt, tầng chứa nước mặn sâu và vỉa than sâu, tập trung ở bể Sông Hồng và khu vực bể Cửu Long – Nam Côn Sơn. Đây là lợi thế không nhiều nước trong khu vực có được. Đối với các dự án CCS, việc tận dụng các mỏ dầu khí cạn kiệt (có đầy đủ dữ liệu địa chất và mô hình mỏ) sẽ giúp giảm đáng kể rủi ro địa chất và chi phí đầu tư.

Hoạt động dầu khí của PVEP tại mỏ Sông Đốc. Ảnh: PVEP
*Hoàn thiện chính sách dưới Luật
Ngày 23/8/2026, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi); trong đó lần đầu tiên hoạt động CCS gắn với hoạt động dầu khí đã được cụ thể vào trong Luật.
Mới đây ngày 25/9/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1852/QĐ-TTg về kế hoạch triển khai thi hành Luật Dầu khí, trong đó giao Bộ Công Thương xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dầu khí vào tháng 12/2026.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã hoàn thành xây dựng Hồ sơ dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dầu khí; trong đó bổ sung các quy định về thu hồi chi phí và hạch toán doanh thu từ tín chỉ carbon trong hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), góp phần hình thành cơ sở pháp lý để triển khai hoạt động này trong khuôn khổ hợp đồng dầu khí.
Nội dung này thuộc Chương IX về hoạt động CCS, được bổ sung trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dầu khí số 10/2026/QH16.
So với Nghị định số 45/2023/NĐ-CP ngày 1/7/2023 quy định chi tiết một số điều của Luật Dầu khí năm 2022, dự thảo Nghị định lần này bổ sung 8 điều, từ Điều 70 đến Điều 77, quy định về đánh giá tiềm năng lưu trữ CO2, triển khai thu giữ và lưu trữ carbon trong khuôn khổ hợp đồng dầu khí, lập kế hoạch, giám sát, thu dọn công trình và cơ chế tài chính liên quan.
Bộ Công Thương cho biết, việc bổ sung Chương IX nhằm cụ thể hóa khung pháp lý về CCS gắn với hoạt động dầu khí theo Luật Dầu khí năm 2026. Đáng chú ý, Điều 76 dự thảo Nghị định quy định các chi phí thực hiện dự án dịch vụ thu giữ và lưu trữ carbon thuộc chi phí hoạt động dầu khí được phép thu hồi theo khoản 2 Điều 51 Luật Dầu khí. Các khoản chi phí bao gồm: Đánh giá tiềm năng lưu trữ carbon; lập kế hoạch triển khai; thiết kế, mua sắm, xây dựng, lắp đặt hệ thống công trình; khoan giếng bơm ép, giếng quan trắc; vận hành, giám sát, bảo hiểm và thu dọn công trình thu giữ và lưu trữ carbon.
Các chi phí này được thu hồi theo mức thu hồi chi phí của hợp đồng dầu khí hiện hữu, quy định tại Điều 23 Luật Dầu khí (sửa đổi), cùng với các chi phí hoạt động dầu khí khác. Nhà thầu có trách nhiệm hạch toán riêng các chi phí liên quan đến thu giữ và lưu trữ carbon để phục vụ kiểm toán, quyết toán.
Đối với doanh thu, khoản 2 Điều 77 dự thảo quy định doanh thu từ bán tín chỉ carbon được sử dụng để bù đắp chi phí hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon, tính trên phần tăng thêm so với mức thu hồi chi phí đã được xác định trong hợp đồng dầu khí.
Phần doanh thu từ tín chỉ carbon vượt quá tổng chi phí thu giữ và lưu trữ carbon chưa được thu hồi được phân chia giữa nhà thầu và nước chủ nhà theo tỷ lệ chia dầu khí lãi quy định trong hợp đồng dầu khí.
Theo Bộ Công Thương, quy định này nhằm làm rõ việc ghi nhận doanh thu từ tín chỉ carbon và hạch toán chi phí, doanh thu CCS. Các khoản chi phí được xem xét thu hồi phải hợp lý, cần thiết và liên quan trực tiếp đến hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon thuộc phạm vi hợp đồng dầu khí, bảo đảm tính minh bạch và phù hợp với quy định của Luật Dầu khí. Bên cạnh đó, việc xác lập, quản lý và sử dụng tín chỉ carbon phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường và thị trường carbon. Dự thảo Nghị định tập trung vào những nội dung gắn với hoạt động dầu khí thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Dầu khí.
Bộ Công Thương cũng cho biết, việc bổ sung cơ chế thu hồi chi phí và hạch toán doanh thu từ hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon là một bước cụ thể hóa các chính sách mới của Luật Dầu khí năm 2026, tạo cơ sở để nhà thầu nghiên cứu, triển khai hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon gắn với các dự án dầu khí tại Việt Nam.

