Hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng

Nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển ngày càng tăng, song nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng ngân hàng. Trong bối cảnh các tổ chức tín dụng phải bảo đảm an toàn vốn và kiểm soát chất lượng tài sản, hoàn thiện cơ chế chia sẻ rủi ro, bảo lãnh tín dụng được kỳ vọng tạo thêm dư địa cung ứng vốn, đồng thời huy động nguồn lực cho những lĩnh vực ưu tiên.

Tháo gỡ điểm nghẽn tiếp cận vốn

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 30-9-2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô tín dụng tiếp tục mở rộng, cho thấy vai trò quan trọng của nguồn vốn ngân hàng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của nền kinh tế.

Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn giữa các nhóm doanh nghiệp vẫn có sự khác biệt. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường gặp bất lợi do hạn chế về tài sản bảo đảm, tính minh bạch của báo cáo tài chính, khả năng chứng minh dòng tiền và phương án kinh doanh. Trong khi đó, ngân hàng phải cân đối giữa yêu cầu đáp ứng nhu cầu vốn và trách nhiệm kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hoạt động.

TS. Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) phát biểu tại Tọa đàm về cơ chế chia sẻ và giảm thiểu rủi ro tín dụng tại Việt Nam. Ảnh: Hiệp hội Ngân hàng

TS. Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) phát biểu tại Tọa đàm về cơ chế chia sẻ và giảm thiểu rủi ro tín dụng tại Việt Nam. Ảnh: Hiệp hội Ngân hàng

Phát biểu tại Tọa đàm về cơ chế chia sẻ và giảm thiểu rủi ro tín dụng tại Việt Nam do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) phối hợp Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) tổ chức, TS. Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) nhấn mạnh, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Để đáp ứng yêu cầu phát triển, nhu cầu vốn sẽ tiếp tục gia tăng, nhất là đối với hạ tầng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nông nghiệp hiện đại. Điều này đặt ra yêu cầu tìm kiếm những phương thức cung ứng vốn mới, bổ trợ cho hoạt động tín dụng truyền thống.

Theo ước tính của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), DNNVV đóng góp khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước và tạo ra 50% việc làm tại Việt Nam, nhưng khoảng 62% nhu cầu vốn của khu vực doanh nghiệp này chưa được đáp ứng, tương ứng khoảng trống tài chính 21,7 tỷ USD. Đối với lĩnh vực hạ tầng, Việt Nam được dự báo cần gần 600 tỷ USD vốn đầu tư mới đến năm 2040, trong đó khoảng 100 tỷ USD khó đáp ứng bằng ngân sách và tín dụng ngân hàng truyền thống.

Những con số này cho thấy quy mô nhu cầu vốn lớn, trong khi khả năng đáp ứng của các kênh tài trợ hiện có còn những giới hạn nhất định. Đối với các dự án hạ tầng cần vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, việc huy động nguồn lực còn phụ thuộc vào khả năng phân bổ rủi ro và mức độ đáp ứng các yêu cầu an toàn tín dụng. Với DNNVV, bài toán không chỉ nằm ở nhu cầu vay vốn mà còn ở khả năng đáp ứng điều kiện tín dụng của ngân hàng.

TS. Đào Minh Tú cho rằng, các công cụ chia sẻ rủi ro và bảo lãnh tín dụng một phần có thể giúp ngân hàng tiếp cận những khách hàng còn hạn chế về tài sản bảo đảm hoặc lịch sử tín dụng, đồng thời thu hút thêm nguồn lực tư nhân trong nước và quốc tế. Mục tiêu không phải là hạ thấp tiêu chuẩn cho vay, mà là giúp rủi ro được nhận diện đầy đủ, phân bổ hợp lý và kiểm soát hiệu quả hơn.

Chia sẻ rủi ro để mở rộng khả năng tiếp cận vốn

Bà Đặng Lưu Phương Anh, Giám đốc Giải pháp khách hàng và Cấu trúc giao dịch nguồn vốn, Nhóm Ngân hàng Thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho biết, việc tài trợ cho DNNVV và các dự án hạ tầng còn gặp trở ngại do quan ngại về rủi ro, giới hạn nguồn vốn và giới hạn tập trung tín dụng. Vì vậy, bên cạnh các kênh huy động vốn hiện có, cần nghiên cứu những phương thức tài trợ có khả năng phân bổ rủi ro hợp lý hơn, tạo điều kiện để các tổ chức tài chính mở rộng cung ứng vốn.

Về nguyên tắc, cơ chế chia sẻ rủi ro cho phép các bên cùng đảm nhận một phần rủi ro tín dụng theo thỏa thuận. Trong khi đó, bảo lãnh tín dụng một phần giúp giảm bớt tổn thất mà tổ chức cho vay phải gánh chịu khi khoản vay phát sinh rủi ro, trong phạm vi cam kết bảo lãnh. Hai công cụ này có cách thức vận hành khác nhau nhưng cùng hướng tới mục tiêu bổ sung cơ chế hỗ trợ tài trợ vốn, đặc biệt với những khách hàng hoặc lĩnh vực còn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng.

Tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng là một trong những yêu cầu đặt ra nhằm khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Ảnh: Vietcombank

Tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng là một trong những yêu cầu đặt ra nhằm khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Ảnh: Vietcombank

Với cơ chế chia sẻ rủi ro trên danh mục tín dụng, ngân hàng vẫn trực tiếp khởi tạo, thẩm định và quản lý khoản vay, đồng thời phân chia tổn thất với đối tác tham gia theo tỷ lệ đã thống nhất. Cách tiếp cận này giúp ngân hàng có thêm công cụ quản lý danh mục, trong khi vẫn duy trì trách nhiệm đối với chất lượng tín dụng. Đối với bảo lãnh tín dụng một phần, phạm vi nghĩa vụ của bên bảo lãnh được xác định theo cam kết, qua đó hỗ trợ giảm thiểu một phần tổn thất nếu khoản vay không được hoàn trả theo quy định.

Tuy nhiên, hiệu quả của các công cụ trên phụ thuộc vào cách thức thiết kế và tổ chức thực hiện. Việc xác định rõ tỷ lệ rủi ro mỗi bên đảm nhận, điều kiện thực hiện cam kết, trách nhiệm quản lý khoản vay và phương thức xử lý khi phát sinh tổn thất là yêu cầu quan trọng. Nếu cơ chế phân chia rủi ro thiếu minh bạch hoặc trách nhiệm giữa các bên không được xác định cụ thể, quá trình triển khai có thể phát sinh vướng mắc, ảnh hưởng đến hiệu quả tài trợ.

Bên cạnh đó, việc mở rộng áp dụng các công cụ chia sẻ rủi ro cần gắn với khuôn khổ pháp lý phù hợp. Cơ chế chia sẻ rủi ro trên danh mục tín dụng hiện chưa có quy định cụ thể tại Việt Nam, do đó cần làm rõ điều kiện áp dụng, quyền và nghĩa vụ của các bên, cơ chế báo cáo, giám sát cũng như cách thức ghi nhận phần rủi ro được chuyển giao. Đối với bảo lãnh tín dụng, việc công nhận là biện pháp giảm thiểu rủi ro khi tính tỷ lệ an toàn vốn cũng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định hiện hành.

Cùng với hoàn thiện hành lang pháp lý, việc nghiên cứu thí điểm có chọn lọc sẽ giúp đánh giá tính khả thi trước khi mở rộng phạm vi áp dụng. Các lĩnh vực như DNNVV, nông nghiệp, hạ tầng và chuyển đổi xanh có thể được xem xét trên cơ sở nhu cầu vốn, đặc điểm rủi ro và khả năng đáp ứng điều kiện của các bên tham gia.

Mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng vì vậy không đơn thuần là tăng quy mô cho vay, mà còn đòi hỏi đổi mới phương thức tài trợ, đa dạng hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả phân bổ rủi ro. Khi được thiết kế phù hợp, các cơ chế này có thể góp phần thu hẹp khoảng trống tài chính của doanh nghiệp, huy động thêm nguồn lực tư nhân và đưa vốn đến những lĩnh vực có nhu cầu đầu tư lớn, đồng thời duy trì kỷ luật tín dụng và an toàn hệ thống ngân hàng.

Phương Thu

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/hoan-thien-co-che-chia-se-rui-ro-mo-rong-kha-nang-tiep-can-tin-dung-1761264.html