Hoàn thiện hệ thống pháp luật về biên giới quốc gia: Nền tảng của biên phòng toàn dân

Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm; quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen; giao lưu kinh tế, thương mại, du lịch và di chuyển dân cư qua biên giới ngày càng gia tăng, yêu cầu xây dựng biên phòng toàn dân càng trở nên cấp thiết. Muốn biên phòng toàn dân thực sự trở thành thế trận vững chắc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, một trong những điều kiện có ý nghĩa nền tảng là phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về biên giới quốc gia, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, minh bạch, khả thi và thích ứng với thực tiễn.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng tổ chức tuần tra bảo vệ biên giới. Ảnh: Đơn vị cung cấp

Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng tổ chức tuần tra bảo vệ biên giới. Ảnh: Đơn vị cung cấp

Trước hết, pháp luật về biên giới quốc gia là cơ sở chính trị-pháp lý để xác lập trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân đối với sự nghiệp biên phòng. Biên phòng toàn dân không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách mà là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, trong đó, Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách. Vì vậy, pháp luật phải làm rõ nguyên tắc, cơ chế và trách nhiệm của từng chủ thể: cấp ủy, chính quyền địa phương; lực lượng vũ trang; các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; cộng đồng dân cư và từng công dân. Điểm cốt lõi là chuyển hóa quan điểm “toàn dân tham gia bảo vệ biên giới” thành những quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và cơ chế phối hợp. Khi trách nhiệm được luật hóa rõ ràng, biên phòng toàn dân mới không dừng ở khẩu hiệu vận động mà trở thành hành động có tổ chức, có phân công, có kiểm tra, giám sát và có chế tài.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật phải đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ biên giới trong điều kiện không gian an ninh ngày càng mở rộng. Biên giới hiện nay không chỉ được nhìn nhận qua đường biên, cột mốc, cửa khẩu hay vùng biển, đảo, mà còn gắn với không gian kinh tế-xã hội, thông tin, dữ liệu và không gian mạng. Các hoạt động xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu, thương mại điện tử xuyên biên giới, logistics, tài chính số, tội phạm công nghệ cao, buôn lậu, gian lận thương mại, mua bán người và các loại tội phạm xuyên quốc gia đang tạo ra những phương thức, thủ đoạn mới.

Do đó, pháp luật cần tiếp tục được rà soát để bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật về biên giới với pháp luật về quốc phòng, an ninh, xuất nhập cảnh, hải quan, biển và hải đảo, phòng, chống tội phạm, dữ liệu và an ninh mạng. Mục tiêu không phải tạo thêm tầng nấc thủ tục, mà là hình thành một hành lang pháp lý thống nhất, trong đó, mỗi cơ quan, lực lượng đều biết rõ mình được làm gì, phải làm gì, phối hợp với ai và chịu trách nhiệm đến đâu. Đặc biệt, cần tăng cường cơ chế chia sẻ thông tin, kết nối dữ liệu và phối hợp liên ngành tại khu vực biên giới, cửa khẩu, cảng biển.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật phải tạo sự thống nhất giữa bảo vệ biên giới với phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân khu vực biên giới. Một đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển chỉ thực sự bền vững khi đời sống nhân dân được nâng lên, kết cấu hạ tầng được củng cố, các dịch vụ thiết yếu được bảo đảm và người dân có điều kiện ổn định cuộc sống, gắn bó lâu dài với địa bàn. Thực tiễn cho thấy, ở đâu kinh tế-xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh được củng cố, hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và đời sống nhân dân được bảo đảm thì ở đó "thế trận lòng dân" càng chắc. Ngược lại, những địa bàn còn khó khăn, khoảng trống về hạ tầng, sinh kế, thông tin hoặc dịch vụ công có thể trở thành những điểm yếu bị các hoạt động vi phạm pháp luật lợi dụng. Vì vậy, pháp luật về biên giới cần tạo hành lang thuận lợi để kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, phát triển khu vực biên giới với quản lý, bảo vệ biên giới.

Thứ tư, pháp luật phải tiếp tục làm rõ và nâng cao hiệu lực của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ biên giới. Bộ đội Biên phòng có vị trí đặc biệt trong xây dựng nền biên phòng toàn dân. Đây là lực lượng trực tiếp bám địa bàn, gần dân, sát dân, quản lý, kiểm soát biên giới, cửa khẩu; đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật; tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế-xã hội, phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và thực hiện đối ngoại biên phòng. Trong điều kiện nhiệm vụ ngày càng toàn diện, pháp luật cần tiếp tục bảo đảm cơ sở để Bộ đội Biên phòng thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với Công an, Hải quan, Kiểm lâm, chính quyền địa phương và các lực lượng liên quan. Phân công phải rõ, phối hợp phải chặt, xử lý phải nhanh, tránh chồng chéo hoặc bỏ trống địa bàn, lĩnh vực.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật phải gắn với xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Biên giới quốc gia vừa là không gian chủ quyền, an ninh, vừa là địa bàn giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia. Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích quốc gia-dân tộc. Do đó, hệ thống pháp luật về biên giới cần tiếp tục bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật quốc gia với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đây là yêu cầu quan trọng để xử lý hài hòa các vấn đề biên giới, cửa khẩu, xuất nhập cảnh, hợp tác kinh tế, phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và các vấn đề phát sinh trong quan hệ với các nước láng giềng. Một yêu cầu có tính nguyên tắc là pháp luật phải đi trước thực tiễn một bước, nhưng đồng thời phải bắt nguồn từ thực tiễn. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về biên giới không thể chỉ là sửa đổi, bổ sung từng văn bản riêng lẻ, mà cần tiếp cận tổng thể, hệ thống.

Quan trọng hơn, phải xây dựng được cơ chế pháp lý để kết nối ba yếu tố: pháp luật chặt chẽ-tổ chức thực hiện hiệu quả-nhân dân đồng thuận, tham gia tích cực. Nếu pháp luật đầy đủ nhưng tổ chức thực hiện yếu thì hiệu lực bị hạn chế; nếu lực lượng chuyên trách mạnh nhưng nhân dân chưa thực sự là chủ thể thì nền biên phòng khó có chiều sâu; nếu nhân dân có tinh thần trách nhiệm nhưng cơ chế pháp lý thiếu rõ ràng thì nguồn lực toàn dân chưa được phát huy đầy đủ.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, biên giới quốc gia là tuyến đầu chiến lược; biên phòng toàn dân là phương thức quan trọng để huy động sức mạnh tổng hợp của đất nước; còn pháp luật là nền tảng bảo đảm cho sức mạnh đó được tổ chức, vận hành đúng hướng, thống nhất và hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về biên giới quốc gia vì thế không chỉ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước mà sâu xa hơn là xây dựng một cơ chế bảo vệ Tổ quốc dựa trên sức mạnh tổng hợp của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang và nhân dân.

Khi pháp luật được hoàn thiện, trách nhiệm được xác định rõ, nguồn lực được huy động đúng và quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, mỗi địa bàn biên giới sẽ thực sự trở thành một thành trì vững chắc; mỗi người dân trở thành một chủ thể tích cực của sự nghiệp biên phòng; mỗi lực lượng thực hiện đúng chức năng, phối hợp chặt chẽ; mỗi cấp ủy, chính quyền thực sự coi việc bảo vệ biên giới là nhiệm vụ thường xuyên. Đó chính là nền tảng để xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh, rộng khắp, hiện đại; quản lý, bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia từ sớm, từ xa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/hoan-thien-he-thong-phap-luat-ve-bien-gioi-quoc-gia-nen-tang-cua-bien-phong-toan-dan-post506608.html