Hoàn thiện khung pháp lý, phát huy hiệu quả thiết thực trong cuộc sống
Ngày 4-11, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội làm việc tại hội trường, cho ý kiến về các dự án: Luật An ninh dữ liệu, Luật Định danh và xác thực điện tử, Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đã góp ý, làm rõ thêm nhiều vấn đề cụ thể, phân tích đánh giá sâu sắc những tồn tại, vướng mắc và đề xuất phương án chỉnh lý, hoàn thiện nhiều quy định của dự thảo luật, qua đó tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý nhằm phát huy hiệu quả thiết thực trong cuộc sống.
Bảo đảm an ninh dữ liệu, phục vụ tốt người dân và doanh nghiệp
Thảo luận ở hội trường về dự án Luật An ninh dữ liệu, các ĐBQH đã làm rõ trách nhiệm bảo vệ, xử lý sự cố và phân loại rủi ro, đồng thời tạo thuận lợi cho việc khai thác, chia sẻ dữ liệu, không làm gián đoạn các dịch vụ thiết yếu.

Đoàn Chủ tịch điều hành phiên thảo luận ngày 4-11. Ảnh:quochoi.vn
Các đại biểu cho rằng, bảo vệ dữ liệu y tế phải gắn với bảo đảm an toàn người bệnh và duy trì liên tục hoạt động khám, chữa bệnh. Theo đại biểu, hồ sơ bệnh án chứa nhiều thông tin nhạy cảm, cần được bảo mật nghiêm ngặt. Tuy nhiên, nếu các quy định về an ninh dữ liệu thiếu linh hoạt, người bệnh có thể gặp khó khăn trong tiếp cận những dịch vụ điều trị cần thiết. Đối với dữ liệu đã mã hóa, có kiểm soát truy cập và lưu vết, cần có quy trình xử lý phù hợp, tránh phát sinh thủ tục không cần thiết.
Bên cạnh đặc thù của lĩnh vực y tế, các đại biểu tập trung góp ý về trách nhiệm ứng phó sự cố, phân loại cấp độ rủi ro và cơ chế chuyển, chia sẻ dữ liệu. Đại biểu đề nghị tại Điều 22 quy định sự cố từ cấp độ 3 trở lên phải được báo cáo chậm nhất trong 24 giờ kể từ khi phát hiện; trường hợp có nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng phải báo ngay. Đồng thời, người có dữ liệu bị xâm phạm phải được thông báo kịp thời về loại thông tin có thể bị lộ, nguy cơ phát sinh và biện pháp tự bảo vệ. Cần thiết lập cơ chế phối hợp với ngân hàng, viễn thông và các nền tảng số để cảnh báo, ngăn chặn nguy cơ tiếp diễn.
Ở góc độ phục vụ người dân, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 4 nguyên tắc ưu tiên triển khai hệ thống số của cơ quan nhà nước trên nền tảng dùng chung đã được đánh giá an ninh, hạn chế phát sinh hệ thống riêng lẻ. Đồng thời, đề nghị công nhận, sử dụng lại kết quả đánh giá an ninh của nền tảng dùng chung cho các ứng dụng vận hành trên đó, tránh đánh giá trùng lặp và tăng chi phí.
Đại biểu cũng kiến nghị Chính phủ rà soát các ứng dụng phục vụ người dân, thực hiện nghiêm nguyên tắc không yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có và ưu tiên gửi thông báo về hồ sơ hành chính, thời hạn giải quyết, quyền lợi của người dân qua VNeID. Các kiến nghị tập trung vào yêu cầu bảo vệ dữ liệu theo đúng mức độ rủi ro, xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, đồng thời tránh để các quy định mới làm phát sinh thêm thủ tục, chi phí và bất tiện cho người dân, doanh nghiệp.
Luật hóa cụ thể quy trình truy vết và siết chặt nhật ký khai thác thông tin
Đối với dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, qua nghiên cứu, các ĐBQH tập trung đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc nhằm hoàn thiện các quy định về khai thác, sử dụng danh tính điện tử, bảo đảm quyền tiếp cận của mọi người dân, siết chặt quản lý nhật ký xác thực, bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng như làm rõ thẩm quyền trong hoạt động truy vết danh tính điện tử.

Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đồng Nai tham dự phiên thảo luận tại hội trường ngày 4-11. Ảnh: CTV
Về hoạt động xác thực điện tử, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung tại khoản 5 Điều 23 nguyên tắc: Việc xác thực điện tử và liên kết tài khoản giao dịch điện tử được thực hiện phù hợp với tính chất, mức độ rủi ro của giao dịch, yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh và quy định của pháp luật chuyên ngành; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện. Bên cạnh đó, tại khoản 6 Điều 23, đề nghị khi quy định các giao dịch bắt buộc xác thực trong từng lĩnh vực cần có sự thống nhất về tiêu chí và phương thức thực hiện, để tránh phát sinh những yêu cầu khác nhau gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.
Để dữ liệu nhật ký xác thực thực sự chuyển hóa thành chứng cứ điện tử hợp pháp phục vụ điều tra hình sự và xử phạt vi phạm hành chính về an ninh mạng, ĐBQH kiến nghị: Mọi hoạt động xác thực phải được ghi nhận đầy đủ vào nhật ký xác thực và lưu trữ. Đối với mô hình xác thực độc lập tại điểm b khoản 2 Điều 28, cần quy định rõ tần suất đồng bộ nhật ký xác thực về Hệ thống định danh và xác thực điện tử của Bộ Công an theo thời gian thực hoặc định kỳ trong ngày; tránh việc các tổ chức lưu trữ cục bộ lâu ngày, dẫn đến nguy cơ bị can thiệp hoặc xóa dấu vết khi xảy ra sự cố an ninh mạng. Đối với dữ liệu về kết quả xác thực tại khoản 3 và khoản 4 Điều 28, đề nghị bổ sung yêu cầu nhật ký xác thực khi lưu trữ và trích xuất phải được áp dụng chữ ký số và dấu thời gian của hệ thống quản lý nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, chống chối bỏ.
Xử lý vi phạm hành chính: Tăng tính răn đe nhưng đảm bảo lợi ích của người dân
Thảo luận ở hội trường về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), theo các đại biểu, đây là đạo luật liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày của người dân và doanh nghiệp. Bên cạnh yêu cầu siết chặt kỷ cương, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, dự thảo luật cần thiết lập những cơ chế kiểm soát chặt chẽ, áp dụng công nghệ, tăng thời hiệu, mức phạt và phân cấp thẩm quyền, đồng thời đảm bảo mục tiêu xử lý đúng người, đúng vi phạm, đề cao tính nhân văn và không làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đồng Nai tham dự phiên thảo luận tại hội trường ngày 4-11. Ảnh: CTV
Các đại biểu cho rằng những hình ảnh, dữ liệu thu thập được không phải trong mọi trường hợp đều đủ để xác định chính xác chủ thể, tính chất, mức độ và các tình tiết của hành vi vi phạm. Do vậy, việc bỏ qua khâu lập biên bản hiện trường là thiếu chặt chẽ. Trên cơ sở đó, ĐBQH đề nghị chỉnh lý chỉ áp dụng thủ tục không lập biên bản đối với các vi phạm có tình tiết đơn giản, chứng cứ đã rõ ràng và đã xác định được cá nhân, tổ chức vi phạm. Trường hợp phải xác minh nhiều tình tiết hoặc ghi nhận hiện trạng thực tế thì phải thực hiện thủ tục có lập biên bản. Đồng thời, đại biểu đề nghị khi thông báo vi phạm cần cung cấp kèm theo tài liệu, hình ảnh hoặc dữ liệu làm căn cứ xử phạt để cá nhân, tổ chức có điều kiện kiểm tra, giải trình trước khi ban hành quyết định.
ĐBQH đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, quy định rõ trong luật những điều kiện, căn cứ để quyết định kéo dài thời hạn tạm giữ, gắn với tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc và yêu cầu ngăn chặn hành vi vi phạm. Đồng thời, đại biểu yêu cầu cũng cần xác định trách nhiệm của người có thẩm quyền quyết định kéo dài, bảo đảm việc áp dụng có căn cứ, đúng mục đích, không tùy tiện và không vượt quá thời gian thực sự cần thiết.
Tiếp cận dự thảo luật từ góc độ tác động xã hội của các biện pháp chế tài, nhiều đại biểu cho rằng cần có sự tính toán kỹ lưỡng, đặc biệt là khi mở rộng thẩm quyền hoặc áp dụng các biện pháp mạnh. Nếu quyết định xử phạt áp dụng số tiền quá lớn vượt quá khả năng chi trả của người vi phạm, mục tiêu quản lý Nhà nước sẽ không đạt được, đồng thời tạo thêm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp. Đại biểu đề xuất Chính phủ cần ưu tiên áp dụng đồng bộ các biện pháp khắc phục hậu quả, như buộc khôi phục tình trạng ban đầu hay thu hồi lợi ích bất hợp pháp. Bởi, điều xã hội thực sự cần là chấm dứt vi phạm thay vì chỉ thu tiền phạt.
Bên cạnh đó, đại biểu kiến nghị cần có cơ chế mở để cơ quan nhà nước tiếp nhận, xem xét ý kiến giải trình của công dân trong mọi trường hợp, kể cả khi đã ban hành quyết định xử phạt. Bởi theo đại biểu, quyền được lên tiếng và cung cấp chứng cứ bảo vệ mình là quyền lợi chính đáng.
