Hoàn thiện thể chế, mở cơ hội cho tài sản mã hóa ở Việt Nam
Mã hóa tài sản thực có thể trở thành một phương thức huy động vốn mới, giúp hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số theo định hướng Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Điều kiện cần thiết là một hạ tầng thị trường bảo đảm tính pháp lý, minh bạch và khả năng kiểm chứng.

Toàn cảnh phiên khai mạc Hội nghị Mã hóa tài sản thực Việt Nam 2026 diễn ra sáng ngày 18/7 tại Hà Nội, quy tụ hơn 3.000 đại biểu trong nước và quốc tế. (Ảnh: HNV)
Ngày 18/7, tại Hà Nội, Hội nghị Mã hóa tài sản thực Việt Nam 2026 (Vietnam RWA Summit 2026) chính thức khai mạc với sự tham dự của hơn 3.000 đại biểu đến từ các cơ quan lập pháp, quản lý nhà nước như Quốc hội, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Nội vụ,... cùng đại diện các doanh nghiệp công nghệ, định chế tài chính lớn trong và ngoài nước.
Chương trình diễn ra trong 2 ngày (18-19/7), do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam (VBA), Hiệp hội An ninh mạng quốc gia (NCA) và Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA) phối hợp tổ chức.
Chuyển dịch tư duy quản lý, xây dựng hạ tầng niềm tin cho thị trường tài sản số
Phát biểu khai mạc, ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban chứng khoán nhà nước nhận định: Mã hóa tài sản thực đang nổi lên như một trong những xu hướng có ảnh hưởng lớn đối với tài chính toàn cầu, giúp khơi thông những nguồn lực còn “ngủ yên” trong nền kinh tế.
Đối với Việt Nam, khi nhu cầu vốn cho hạ tầng, sản xuất, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng nhiều, đây sẽ là hướng phát triển giàu tiềm năng, cần được nghiên cứu nghiêm túc, triển khai thận trọng với tầm nhìn dài hạn. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh thị trường tài sản mã hóa nói chung và mã hóa tài sản thực nói riêng chỉ có thể phát triển bền vững khi được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý rõ ràng, dòng tiền minh bạch, hạ tầng an toàn và nhà đầu tư được bảo vệ.

Ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, phát biểu khai mạc Vietnam RWA Summit 2026. (Ảnh: HNV)
Về an ninh mạng, Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Bộ Công an cho biết: Một hệ sinh thái tài sản số chỉ có thể phát triển lâu dài khi được xây dựng trên nền tảng công nghệ an toàn, dữ liệu được bảo vệ, giao dịch minh bạch, chủ thể có trách nhiệm rõ ràng và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được bảo đảm.
“Quan điểm của Bộ Công an nói chung và lực lượng an ninh mạng, phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói riêng là an ninh mạng không phải là rào cản của đổi mới sáng tạo. Ngược lại, an ninh mạng chính là điều kiện để đổi mới sáng tạo phát triển bền vững và tạo dựng niềm tin cho thị trường”, Đại tá Hồng Quân nêu rõ.

Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng A05, Bộ Công an, phát biểu tại hội nghị.
Làm rõ các rủi ro kỹ thuật, Thượng tá, Tiến sĩ Nguyễn Thành Chung, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Bộ Công an cho biết: Từ năm 2020 đến đầu năm 2025, thế giới ghi nhận hơn 660 vụ tấn công mạng trong lĩnh vực tài sản mã hóa, gây thiệt hại gần 13 tỷ USD. Riêng từ đầu năm 2026, tổn thất tiếp tục ở mức khoảng 800 triệu USD. Rủi ro chủ yếu xuất phát từ đặc tính kỹ thuật mới của blockchain, mức đầu tư an ninh mạng còn hạn chế, điểm yếu con người và sức hấp dẫn ngày càng lớn của thị trường đối với tội phạm mạng. Các cuộc tấn công thường tập trung vào ví, sàn giao dịch, cầu nối và ứng dụng blockchain, đặt ra yêu cầu tăng cường đánh giá, giám sát và ứng phó sự cố đối với các hệ thống thí điểm.

Thượng tá, Tiến sĩ Nguyễn Thành Chung, A05, Bộ Công an, chia sẻ về rủi ro an ninh mạng trong lĩnh vực tài sản mã hóa.
Việt Nam có lợi thế về quy mô quy mô nhu cầu bán lẻ, nền tảng phát triển số hóa thị trường vốn
Thượng tá Lê Thị Thế Hoàng, Phó Trưởng phòng 2, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03), Bộ Công an cảnh báo các thủ đoạn dựng dự án token, tạo thanh khoản giả bằng bot và tài khoản ảo để thu hút nhà đầu tư, sau đó “xả” tài sản hoặc đánh sập hệ thống. Tài sản mã hóa cũng bị lợi dụng để rửa tiền qua nhiều lớp trung gian, nền tảng blockchain và sàn quốc tế nhằm cản trở truy vết. Theo bà, yêu cầu đặt ra không chỉ là xử lý vi phạm, mà còn phải nâng cao năng lực nhận diện sớm, giám sát dòng tiền và phối hợp giữa cơ quan quản lý, lực lượng thực thi pháp luật với các tổ chức trong hệ sinh thái.

Thượng tá Lê Thị Thế Hoàng, Phó Trưởng phòng 2, C03, Bộ Công an, cảnh báo về các hành vi phạm tội liên quan đến tài sản mã hóa.
Nếu hàng lang pháp lý là điều kiện cần, hạ tầng dữ liệu tin cậy sẽ là điều kiện đủ để thị trường phát triển và đạt được những kết quả như kỳ vọng. Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam, cho biết dòng vốn vào mã hóa tài sản thực trong năm 2025 tăng khoảng 300%, cao hơn đáng kể so với các nhóm tài sản khác. Tuy nhiên, trở ngại khiến thị trường chưa phát triển tương xứng với tiềm năng không nằm ở công nghệ token hóa, mà ở việc chưa xây dựng được đầy đủ niềm tin cho thị trường vốn.
Theo ông Trung, blockchain có thể hỗ trợ phân phối, chuyển nhượng và thanh toán tài sản, nhưng không thể tự tạo ra niềm tin hay biến một tài sản kém chất lượng thành tài sản tốt. Niềm tin đối với token phải bắt đầu từ dữ liệu đáng tin cậy về tài sản thực, danh tính có thể kiểm chứng của các bên, thông tin xác thực về tài sản và dòng tiền, cùng cơ chế công bố, theo dõi và giám sát liên tục.

Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam (VBA), chia sẻ về yêu cầu xây dựng hạ tầng niềm tin cho thị trường tài sản số.
Vì vậy, cấu trúc thị trường cần được xây dựng theo trình tự từ tài sản thực, hạ tầng dữ liệu tin cậy đến tài sản số trên một nền tảng pháp lý phù hợp, sau đó mới hình thành token và các kênh phân phối. Trong cấu trúc này, sàn giao dịch chỉ là một trong nhiều kênh đưa tài sản đến nhà đầu tư; vấn đề quyết định vẫn là loại tài sản được phân phối, chất lượng tài sản và khả năng kiểm chứng dữ liệu phía dưới.
Đối với Việt Nam, ông Trung cho biết trong khoảng 10 tháng, thị trường đã hình thành sáu văn bản ở nhiều cấp độ, từ luật, nghị định đến thông tư, đồng thời tiếp tục chuẩn bị khuôn khổ về định danh và xác thực. Việt Nam cũng có lợi thế về quy mô nhu cầu bán lẻ, với khoảng 200 tỷ USD tài sản mã hóa đi qua thị trường và khoảng 17 triệu ví hoặc người nắm giữ tài sản mã hóa. Đây có thể là nền tảng quan trọng để phát triển thị trường vốn được số hóa, với điều kiện các lớp dữ liệu, tài sản số và cơ chế phân phối được xây dựng đầy đủ.












