Hoàn thiện thể chế pháp luật: Gỡ điểm nghẽn, mở không gian phát triển cho logistics Việt Nam

Trong bối cảnh phát triển mới hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là sửa đổi, bổ sung thêm quy định, mà quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống thể chế đồng bộ, rõ ràng, khả thi, có tính dự báo và phù hợp với cách thức vận hành thực tế của lĩnh vực logistics Việt Nam.

Logistics là lĩnh vực có tính liên ngành rất cao, liên quan đến nhiều khâu từ sản xuất, lưu thông, phân phối, xuất nhập khẩu đến tiêu dùng và sau tiêu dùng. Chính đặc điểm này khiến hoạt động logistics chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật và sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau. Trong khi đó, hoạt động logistics đang phát triển nhanh theo hướng tích hợp hơn, với sự xuất hiện của nhiều mô hình mới như logistics thương mại điện tử, logistics số, logistics xanh, logistics đô thị...

Từ thực tiễn đó, các khách mời tại Tọa đàm “Hoàn thiện thể chế pháp luật về logistics: Gỡ điểm nghẽn, mở không gian phát triển” do Tạp chí Công Thương thực hiện mới đây cho rằng yêu cầu hiện nay không chỉ là bổ sung thêm quy định, mà quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống thể chế đồng bộ, rõ ràng, khả thi, có tính dự báo và phù hợp với cách thức vận hành thực tế của chuỗi logistics.

Tọa đàm “Hoàn thiện thể chế pháp luật về logistics: Gỡ điểm nghẽn, mở không gian phát triển” do Tạp chí Công Thương tổ chức

Tọa đàm “Hoàn thiện thể chế pháp luật về logistics: Gỡ điểm nghẽn, mở không gian phát triển” do Tạp chí Công Thương tổ chức

Đồng bộ pháp luật, chuyển từ quản lý từng khâu sang quản lý theo chuỗi

Một trong những vấn đề được nhiều khách mời cùng đề cập tại Tọa đàm là còn thiếu kết nối giữa các quy định, chính sách và đầu mối quản lý đang tác động trực tiếp đến hoạt động logistics.

Theo TS. Trần Quốc Việt, Trưởng khoa Quản lý và Đô thị, Đại học Thủ đô Hà Nội, hệ thống pháp luật liên quan đến logistics thời gian qua đã có nhiều thành tựu và bước tiến lớn. Hoạt động logistics hiện được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật về thương mại, hải quan, thuế, bảo hiểm, vận tải, giao thông... Đây là những nền tảng pháp lý quan trọng cho sự phát triển của ngành.

Tuy nhiên, điểm đáng quan tâm hiện nay không đơn thuần là “thiếu văn bản nào, thiếu bao nhiêu quy định”, mà là các quy định thuộc những lĩnh vực pháp luật chuyên ngành đã đồng bộ với nhau hay chưa và đã bao phủ toàn bộ chuỗi hoạt động logistics hay chưa. Theo ông Việt, khoảng trống đáng chú ý nhất nằm tại điểm giao giữa các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết là kết nối chặt chẽ hơn các “điểm logic” đó.

TS. Trần Quốc Việt nhấn mạnh, việc logistics có nhiều đầu mối quản lý tự thân nó không là bất hợp lý, bởi điều này xuất phát từ bản chất liên ngành của hoạt động logistics. Vấn đề cần giải quyết không phải là cắt giảm một cách cơ học số lượng quy định hay số đầu mối, mà là làm cho các quy định thống nhất, đồng bộ và các đầu mối quản lý phối hợp “nhịp nhàng, ăn khớp” với nhau, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.

TS. Trần Quốc Việt, Trưởng khoa Quản lý và Đô thị, Đại học Thủ đô Hà Nội: Hệ thống pháp luật liên quan đến logistics thời gian qua đã có nhiều thành tựu và bước tiến lớn; tuy nhiên, khoảng trống đáng chú ý nhất nằm tại điểm giao giữa các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành.

TS. Trần Quốc Việt, Trưởng khoa Quản lý và Đô thị, Đại học Thủ đô Hà Nội: Hệ thống pháp luật liên quan đến logistics thời gian qua đã có nhiều thành tựu và bước tiến lớn; tuy nhiên, khoảng trống đáng chú ý nhất nằm tại điểm giao giữa các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành.

Từ góc độ thị trường trong nước, bà Nguyễn Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Hạ tầng thương mại, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cũng cho rằng, điểm nghẽn căn bản là sự thiếu kết nối giữa các mắt xích trong hệ thống chính sách.

Theo bà Hương, không nên tháo gỡ cơ chế, chính sách theo từng điểm riêng lẻ mà phải nhìn toàn bộ quá trình từ sản xuất, kho bãi, vận tải, phân phối đến lưu thông. Thể chế logistics cần thay đổi cách tiếp cận, không nên quản lý theo từng khâu mà cần nhìn nhận theo dòng hàng hóa và trong chuỗi cung ứng.

"Logistics ngày nay gắn với quy hoạch, giao thông, đầu tư, thương mại, chuyển đổi số và môi trường, vì vậy logistics không chỉ là một mảnh ghép mà phải nằm trong cả một hệ thống, đồng thời vẫn cần phải có một cách tiếp cận phù hợp với những mô hình thương mại điện tử, nhất là kho đa kênh và giao hàng chặng cuối của đô thị", bà Hương nhấn mạnh.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Ngô Khắc Lễ, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), cho rằng những quy định thuận lợi cho doanh nghiệp phải là những quy định xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với trình độ thực tiễn và trình độ quản lý. Ngược lại, những quy định không xuất phát từ thực tiễn hoặc xuất phát từ thực tiễn nhưng chưa đầy đủ sẽ dễ tạo ra vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Bà Nguyễn Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Hạ tầng thương mại, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, thể chế về logistics cần thay đổi cách tiếp cận, không nên quản lý theo từng khâu mà cần nhìn nhận theo dòng hàng hóa và trong chuỗi cung ứng.

Bà Nguyễn Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Hạ tầng thương mại, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, thể chế về logistics cần thay đổi cách tiếp cận, không nên quản lý theo từng khâu mà cần nhìn nhận theo dòng hàng hóa và trong chuỗi cung ứng.

Hoàn thiện khung pháp lý về dịch vụ logistics, tạo dư địa cho các mô hình mới

Một nhóm giải pháp quan trọng khác được TS. Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, đề cập trực tiếp là rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về kinh doanh dịch vụ logistics.

Theo ông Nghiêm, Bộ Công Thương đang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội doanh nghiệp rà soát, tổng kết việc thực hiện Nghị định số 163/2017/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ logistics. Định hướng là xây dựng một nghị định mới thay thế Nghị định 163, tập trung vào các vấn đề như: phân loại dịch vụ logistics, điều kiện kinh doanh, tiếp cận thị trường, giới hạn trách nhiệm của các bên và sự thống nhất giữa pháp luật chuyên ngành.

Trong đó, ông Nghiêm cho biết việc phân loại dịch vụ logistics cần được xem xét lại, bởi cách phân loại thành 17 nhóm dịch vụ theo Nghị định 163 hiện có sự khác biệt so với phân loại trên thế giới. Các điều kiện kinh doanh cũng cần được điều chỉnh để đồng bộ với các luật mới như Luật Đầu tư.

Đối với các mô hình logistics mới, quan điểm của ông Nghiêm là cần phân biệt bản chất dịch vụ, phương thức cung ứng và không gian hoạt động để có cách quản lý phù hợp. Chẳng hạn, logistics thương mại điện tử cần làm rõ trách nhiệm trong xử lý đơn hàng, giao nhận và hoàn trả; logistics số cần chú trọng chứng từ điện tử, chia sẻ dữ liệu và trách nhiệm giữa các nền tảng với các bên trực tiếp cung ứng dịch vụ. Với logistics xanh cần có tiêu chí đo lường, lộ trình phù hợp và cơ chế hỗ trợ chuyển đổi; còn logistics đô thị cần gắn với bố trí điểm giao nhận, tổ chức giao thông và giao hàng chặng cuối. 

"Không nên vì mỗi tên gọi của một loại hình dịch vụ mới mà biến loại hình đó thành một ngành nghề kinh doanh với một hệ thống điều kiện riêng, bởi điều này có thể gây thêm khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp", TS. Bùi Bá Nghiêm nêu ý kiến. Đồng thời cho biết, xa hơn có thể nghiên cứu, xem xét trình Quốc hội để tiến tới ban hành luật về logistics nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ cao và tăng tính kết nối giữa pháp luật logistics với các pháp luật chuyên ngành. 

TS. Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương trao đổi về vấn đề rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về kinh doanh dịch vụ logistics.

TS. Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương trao đổi về vấn đề rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về kinh doanh dịch vụ logistics.

Hoàn thiện thể chế gắn với quy hoạch, trung tâm logistics và liên kết vùng

Từ góc độ nghiên cứu và tham vấn chính sách, TS. Trần Quốc Việt đề xuất 04 nguyên tắc cần được bảo đảm khi hoàn thiện hệ thống pháp luật về logistics: rõ ràng, thống nhất, khả thi và có khả năng dự báo.

Theo ông Việt, tính rõ ràng giúp các chủ thể biết mình phải đáp ứng điều kiện nào, quyền và nghĩa vụ đến đâu. Tính thống nhất bảo đảm các quy định thuộc những lĩnh vực khác nhau có thể vận hành cùng nhau khi áp dụng vào một hoạt động logistics. Tính khả thi đòi hỏi yêu cầu pháp lý có thể thực hiện trên thực tế với chi phí tuân thủ hợp lý. Còn khả năng dự báo tạo cơ sở để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinh doanh và đầu tư dài hạn. 

Ông Việt cũng cho rằng bảo đảm an toàn pháp lý và duy trì sự đa dạng, linh hoạt của thị trường không phải hai yêu cầu mâu thuẫn. Pháp luật cần quy định đủ rõ những vấn đề cốt lõi như điều kiện kinh doanh, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên, nhưng không nhất thiết quy định quá chi tiết những nội dung mà các chủ thể có thể chủ động thỏa thuận hoặc lựa chọn phù hợp với đặc thù từng loại hình dịch vụ.

Từ đó, ông Việt đề xuất chuyển từ cách xây dựng những quy định riêng lẻ sang xây dựng một môi trường pháp lý cho logistics. Khi xây dựng quy định trong từng lĩnh vực như đầu tư, tài chính..., bên cạnh yêu cầu quản lý của lĩnh vực đó, cần xem xét tác động của quy định đối với cả chuỗi hoạt động logistics, qua đó làm cho hệ thống pháp luật đồng bộ hơn với cách logistics vận hành trên thực tế.

Đồng thời, cần tiếp tục rà soát để cắt giảm những thủ tục, điều kiện không thực sự cần thiết và chú trọng chất lượng, hiệu quả thực thi của quy định. Theo ông, ổn định và khả năng dự báo của môi trường pháp lý có ý nghĩa đặc biệt đối với logistics, bởi đây là lĩnh vực có những khoản đầu tư lớn, dự án dài hạn và những phương tiện, hệ thống có giá trị cao.

Từ góc độ quản lý và phát triển thị trường trong nước, bà Nguyễn Thanh Hương đề xuất việc quy hoạch và phát triển mạng lưới logistics cần dựa trên dòng hàng hóa, trong đó nhu cầu về trung tâm logistics phải gắn với vùng sản xuất, vùng tiêu thụ, các hành lang vận tải và các đầu mối giao thông quan trọng.

Theo đại diện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, không chỉ là xây dựng thêm bao nhiêu trung tâm logistics, với diện tích hay công suất bao nhiêu, mà quan trọng hơn là các trung tâm đó có tính kết nối và hoạt động hiệu quả hay không. Cách tiếp cận này nhằm hạn chế đầu tư dàn trải, trùng lặp nhưng vẫn bảo đảm năng lực phục vụ thị trường. Đồng thời cần nâng cao khả năng kết nối đa phương thức, phù hợp với đặc tính của từng loại hàng hóa và phương thức vận chuyển. Trên thực tế, không gian logistics cần được nhìn nhận vượt ra ngoài phạm vi địa giới hành chính. Quy hoạch cần dựa trên vùng cung ứng, vùng tiêu thụ và hành lang vận tải; doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần tăng cường liên kết với sản xuất, bán buôn, bán lẻ và thương mại điện tử, đồng thời chú trọng sử dụng chung kho bãi, phương tiện và dịch vụ để tối ưu hóa và giảm chi phí đầu tư.

Bà Hương cũng lưu ý đến yêu cầu hoàn thiện chính sách đối với các mô hình gắn với thương mại điện tử như kho đa kênh, trung tâm chia chọn, giao hàng chặng cuối và logistics ngược. Những hoạt động này đã trở thành một phần của hệ thống phân phối hiện đại, vì vậy cần có cách tiếp cận thể chế phù hợp. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và cơ sở sản xuất khó có khả năng tự đầu tư trung tâm logistics, cần có biện pháp khuyến khích sử dụng trung tâm logistics dùng chung để tối ưu hiệu quả.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động logistics cần đi từ chuyển đổi riêng lẻ sang kết nối dữ liệu. Khi thông tin về nguồn hàng, tồn kho, đơn hàng và vận chuyển được kết nối, doanh nghiệp có thể điều phối tốt hơn và giảm các chi phí cần thiết. 

Các khách mời trao đổi tại Tọa đàm.

Các khách mời trao đổi tại Tọa đàm.

Đổi mới cách thực thi chính sách, quản lý

Nếu sự đồng bộ của pháp luật là một yêu cầu quan trọng, thì cơ chế phối hợp trong tổ chức thực hiện được các khách mời nhìn nhận là một khâu quyết định để tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tế.

Theo ông Ngô Khắc Lễ, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp gặp khó khăn không hẳn do thiếu quy định mà do cách tương tác giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý, khiến việc giải quyết kéo dài. Vì vậy, cần có một mô hình phối hợp giữa cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp để xử lý nhanh các khó khăn, vướng mắc, để khi doanh nghiệp phát sinh vấn đề có thể biết rõ vấn đề đó được giải quyết ở đâu, với ai, giải quyết đến cùng như thế nào...

Từ góc độ quản lý nhà nước, bà Nguyễn Thanh Hương cũng nhấn mạnh yêu cầu “rõ đầu mối, rõ trách nhiệm” và có cơ chế phối hợp đối với những vấn đề liên ngành, liên vùng. Theo bà, ban hành quy định chỉ là bước đầu; quan trọng là tổ chức thực hiện và cách thức phối hợp giữa các bên.

Bà Hương đề xuất một cách phân công tương đối rõ: Nhà nước tạo lập thể chế và điều phối; địa phương tạo điều kiện và tổ chức không gian; doanh nghiệp logistics cung cấp dịch vụ; còn doanh nghiệp sản xuất, phân phối tạo ra nguồn hàng và thị trường. Đồng thời, quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cần lấy ý kiến doanh nghiệp và chuyên gia để bảo đảm quy định khi ban hành có thể đi vào cuộc sống.

Từ góc độ công tác quản lý, TS. Bùi Bá Nghiêm nhấn mạnh yêu cầu cần kiện toàn bộ phận tham mưu, giúp việc cho Chính phủ về điều phối logistics quốc gia và xây dựng Cơ sở dữ liệu logistics quốc gia.

Theo ông Nghiêm, điểm nghẽn xuyên suốt hiện nay không chỉ nằm ở việc hoàn thiện pháp luật chuyên ngành về giao thông, thương mại..., mà quan trọng hơn là cơ chế phối hợp. Cùng với đó, hiện chưa có cơ sở dữ liệu logistics quốc gia phục vụ công tác điều phối và quản lý.

Một trong những ưu tiên được đề xuất là kiện toàn bộ phận tham mưu, giúp việc cho Chính phủ về điều phối logistics quốc gia và xây dựng cơ sở dữ liệu logistics quốc gia theo hướng có thể quản lý dữ liệu theo thời gian thực. "Đây là điều kiện quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và liên quan trực tiếp đến việc giảm chi phí, thời gian trong logistics", ông Nghiêm nhấn mạnh.

Cùng với việc xây dựng cơ sở dữ liệu, TS. Bùi Bá Nghiêm đề xuất xem xét cho phép Bộ Công Thương thành lập Văn phòng logistics quốc gia để có một bộ phận chuyên trách đủ mạnh, đồng thời xây dựng các công cụ như cơ sở dữ liệu và nền tảng điều phối logistics quốc gia. Khi có cả con người và công cụ, hoạt động điều phối mới có thể được triển khai hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thị trường và doanh nghiệp.

Doanh nghiệp cần chủ động hơn trong tuân thủ và phản biện chính sách

Bên cạnh các giải pháp hoàn thiện thể chế, theo các khách mời, không chỉ đặt trách nhiệm ở cơ quan nhà nước mà còn đòi hỏi doanh nghiệp chủ động hơn trong cập nhật pháp luật, phản ánh vướng mắc và tham gia quá trình xây dựng chính sách.

Ông Ngô Khắc Lễ khuyến nghị doanh nghiệp nên có bộ phận hoặc nhân sự theo dõi, cập nhật hệ thống văn bản pháp luật mới và duy trì kết nối, trao đổi với cơ quan quản lý, hiệp hội. Với doanh nghiệp nhỏ chưa đủ điều kiện lập bộ phận chuyên trách, ít nhất nên có một cán bộ có thể kiêm nhiệm việc này; doanh nghiệp cũng có thể liên hệ với Hiệp hội để tìm hiểu và phản ánh những vấn đề phát sinh.

Ông Lễ đặc biệt nhấn mạnh việc doanh nghiệp nhỏ cần chủ động dành thời gian cho nhân viên tham gia các hội thảo, cuộc họp, tọa đàm và thường xuyên cập nhật quy định mới. Theo ông, việc này có thể được thực hiện tương đối đơn giản thông qua việc thường xuyên theo dõi các bản tin, website của Hiệp hội và trao đổi về những quy định mới.

Trong khi đó, TS. Bùi Bá Nghiêm mong muốn Hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp sử dụng, cung ứng dịch vụ logistics tiếp tục có nhiều ý kiến phản biện chính sách hơn và phản hồi kịp thời về những khó khăn, vướng mắc.

Các diễn giả khách mời tham gia Tọa đàm của Tạp chí Công Thương với chủ đề: "Hoàn thiện thể chế pháp luật về logistics: Gỡ điểm nghẽn, mở không gian phát triển"

Các diễn giả khách mời tham gia Tọa đàm của Tạp chí Công Thương với chủ đề: "Hoàn thiện thể chế pháp luật về logistics: Gỡ điểm nghẽn, mở không gian phát triển"

Những ý kiến trao đổi của đại diện Bộ, ngành, hiệp hội doanh nghiệp và chuyên gia cho thấy, thể chế cần được thiết kế phù hợp với chuỗi logistics thực tế, đồng thời phải bảo đảm sự thống nhất giữa các lĩnh vực pháp luật, rõ trách nhiệm của các bên, giảm những yêu cầu không cần thiết, tăng khả năng phối hợp và tạo môi trường đủ ổn định để doanh nghiệp chủ động đầu tư, kinh doanh. Khi đó, pháp luật không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn có thể trở thành nền tảng để tháo gỡ rào cản, giảm chi phí tuân thủ và mở rộng không gian phát triển cho ngành logistics Việt Nam.

Việt Hằng

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/hoan-thien-the-che-phap-luat--go-diem-nghen--mo-khong-gian-phat-trien-cho-logistics-viet-nam-549648.htm