Học sinh lớp 12 thích ứng trước dự kiến thay đổi quy chế tuyển sinh đại học
Những thay đổi dự kiến về quy chế tuyển sinh đại học năm 2027 được nhiều học sinh lớp 12 quan tâm để chủ động kế hoạch ôn thi, xét tuyển.

Học sinh Nghệ An tham gia chương trình tư vấn tuyển sinh năm 2026. Ảnh: Hồ Lài
Bộ GD&ĐT công bố dự thảo quy chế tuyển sinh đại học dự kiến áp dụng từ năm 2027. Theo dự thảo, danh mục mã số các phương thức xét tuyển đại học được đề xuất giảm từ 19 xuống còn 11; mỗi ngành được xét tuyển tối đa 3 phương thức thay vì 5 phương thức như quy định trước đây.
Dự thảo cũng đề xuất không cộng điểm ưu tiên đối với chứng chỉ IELTS hoặc thành tích học sinh giỏi khi xét tuyển đại học từ năm 2027.
Học sinh lớp 12 cân nhắc thi chứng chỉ
Lớp 12D1, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng (Thành Vinh, Nghệ An) là lớp chọn khối D, nên phần lớn học sinh đã có chứng chỉ IELTS. Em Võ Hoàng đặt mục tiêu vào Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học Luật Hà Nội. Cuối tháng 8, Hoàng thi IELTS và đạt 7.0. Chưa hài lòng với kết quả, em đăng ký thi lại với mong muốn tăng cơ hội xét tuyển. Tuy nhiên, trước thông tin dự thảo đề xuất bỏ cộng điểm IELTS, Hoàng đang cân nhắc việc tiếp tục thi.
Nam sinh cho biết em bắt đầu ôn luyện IELTS từ sớm, gia đình đầu tư hàng chục triệu đồng cho việc học và thi chứng chỉ. Trong quá trình ôn luyện, có những thời điểm em muốn bỏ cuộc nhưng vẫn cố gắng vì xác định IELTS là một trong những phương án quan trọng để xét tuyển đại học. “Trong lớp có rất nhiều bạn cũng đang băn khoăn trước những dự kiến thay đổi này, và đang chờ quyết định cuối cùng của Bộ GD&ĐT”, Hoàng chia sẻ.
Cùng lớp, Khánh Chi cho biết em đạt IELTS 7.0 từ năm lớp 9. Lên THPT, em tiếp tục ôn IELTS, đồng thời chuẩn bị cho kỳ thi SAT với mục tiêu vào Đại học Ngoại thương. “Chúng em không còn nhiều thời gian để chuẩn bị cho các kỳ thi nữa. Việc có chứng chỉ IELTS và SAT cũng là điều không dễ dàng, đòi hỏi cả năng lực, chăm chỉ, sự kiên trì và cả đầu tư về kinh tế. Vì thế, nếu chính sách tuyển sinh điều chỉnh, em mong có thể lùi thời gian áp dụng để học sinh như chúng em không bị động khi đã chuẩn bị trong suốt 3 năm qua theo quy chế hiện hành”, Khánh Chi nói.
Cô Nguyễn Thị Sắc, giáo viên chủ nhiệm lớp 12D1 Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, cho biết 100% học sinh trong lớp đều ôn luyện và có chứng chỉ IELTS hoặc các chứng chỉ quốc tế khác. Nhiều em bắt đầu chuẩn bị từ những năm đầu THPT.
“Việc thay đổi phương thức tuyển sinh có thể là cần thiết để hướng tới sự công bằng, hạn chế sự chênh lệch về cơ hội giữa học sinh các vùng miền. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có lộ trình phù hợp. Với học sinh lớp 12 năm nay, các em đã chuẩn bị cho việc xét tuyển đại học trong suốt 2 - 3 năm. Nếu thay đổi đột ngột vào thời điểm các em đã cơ bản hoàn thành quá trình học tập, ôn luyện và có chứng chỉ thì sẽ tác động rất lớn đến tâm lý”, cô Sắc chia sẻ.
Sự chuẩn bị về kiến thức là quan trọng nhất
Nguyễn Hải Long, học sinh lớp 12A1, thành viên đội tuyển Tin học của Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng tham dự kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh Nghệ An. “Em đã theo đuổi môn Tin học từ THCS, nhưng thời điểm đó chưa đủ điều kiện để được vào đội tuyển thi tỉnh. Năm nay em đã cố gắng để giành suất dự thi và đặt mục tiêu đạt giải Nhì trở lên”, Long chia sẻ.
Nếu đạt thành tích tốt, Long dự kiến sử dụng kết quả kỳ thi học sinh giỏi tỉnh để tham gia xét tuyển tài năng vào Đại học Bách khoa Hà Nội, hướng đến các ngành công nghệ, kỹ thuật. “Em được biết Bách khoa Hà Nội vẫn có phương thức xét tuyển tài năng dành cho học sinh đạt thành tích trong các kỳ thi học sinh giỏi từ cấp tỉnh đến cấp quốc gia. Vì vậy, em vẫn xác định đây là một hướng để chuẩn bị cho việc xét tuyển đại học”, Long nói.

Giờ học của học sinh lớp 12 Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng (Thành Vinh, Nghệ An). Ảnh: Hồ Lài
Theo kế hoạch, Long sẽ sử dụng kết quả thi học sinh giỏi tỉnh và điểm thi tốt nghiệp THPT để xét tuyển vào Đại học Bách khoa Hà Nội. Bên cạnh đó, em dự kiến tham gia kỳ thi Đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Hà Nội để có thêm phương án xét tuyển vào nhóm ngành kinh tế như Đại học Kinh tế Quốc dân hoặc các trường đại học công nghệ khác.
Long cho biết không muốn tham gia quá nhiều kỳ thi riêng để tránh phân tán thời gian ôn tập, mà sẽ lựa chọn một kỳ thi phù hợp. Em vẫn xác định thi tốt nghiệp THPT là kỳ thi quan trọng và sẽ căn cứ kết quả các kỳ thi, phương thức xét tuyển để sắp xếp nguyện vọng.
Cùng đặt mục tiêu vào Đại học Bách khoa Hà Nội, Đậu Đức Sơn, học sinh lớp 12A1, thành viên đội tuyển Vật lí Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, đang tập trung cho kỳ thi học sinh giỏi tỉnh Nghệ An dự kiến diễn ra giữa tháng 10/2026.
Sau kỳ thi học sinh giỏi tỉnh, Sơn dự kiến chuyển trọng tâm sang ôn luyện kỳ thi Đánh giá tư duy của Đại học Bách khoa Hà Nội, sau đó chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT. “Em học Vật lí trước hết vì đam mê, nên việc dự kiến bỏ điểm cộng ưu tiên thi học sinh giỏi tỉnh trong xét tuyển ĐH không ảnh hưởng đến quyết tâm dự thi của em. Đây sẽ là một mục tiêu cũng là kỷ niệm trong thời gian THPT, và em sẽ cố gắng để đem lại thành tích cho bản thân cũng như cho lớp, cho trường. Còn việc xét tuyển đại học là thành quả của cả một quá trình học tập, rèn luyện lâu dài chứ không thể chỉ dựa vào một, hai điểm cộng từ thành tích học sinh giỏi”, Sơn nói.
Sơn cho biết em sẽ hoàn thành các kỳ thi riêng trong học kỳ I và từ học kỳ II lớp 12 tập trung cho kỳ thi tốt nghiệp THPT. “Em nghĩ mình cứ chuẩn bị thật tốt, học tập chăm chỉ và quyết tâm với mục tiêu đã đặt ra. Khi có sự chuẩn bị chủ động thì những thay đổi trong tuyển sinh cũng không ảnh hưởng quá nhiều đến định hướng của mình”, Sơn chia sẻ.
Đề xuất có lộ trình phù hợp
Thầy Lê Xuân Sơn, Trường THPT chuyên Đại học Vinh, Bộ GD&ĐT và các cơ sở giáo dục đại học cần có cơ sở, dữ liệu thực tế để nghiên cứu, lựa chọn phương thức tuyển sinh, bảo đảm cơ hội và sự công bằng tương đối giữa các nhóm thí sinh.
“Xu hướng hiện nay, nhiều trường đại học đều ưu tiên tuyển sinh theo kết quả của các kỳ thi riêng nên học sinh chỉ dựa vào kết quả thi tốt nghiệp THPT để xét đại học có thể bị hạn chế cơ hội”, thầy Sơn nói.
Theo thầy Sơn, những kết quả học tập, rèn luyện trong quá trình học tập của học sinh đều có giá trị và nên được nghiên cứu để sử dụng trong tuyển sinh ở mức độ phù hợp. Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa bất kỳ một kết quả nào, mà cần quản lý chất lượng và tính công bằng của các kỳ thi; đồng thời xác định mức độ ghi nhận phù hợp đối với từng loại kết quả.
“Không nên có quan niệm cứ có IELTS là có thể vào đại học. Cũng không nên chỉ dựa vào một thành tích học sinh giỏi để quyết định cơ hội của một thí sinh. Điều quan trọng là xác định được mức độ ưu tiên, quy đổi như thế nào cho hợp lý, vừa ghi nhận nỗ lực của học sinh, vừa bảo đảm công bằng trong tuyển sinh”, thầy Sơn bày tỏ.
Về lộ trình, thầy Lê Xuân Sơn cho rằng cần có khoảng thời gian đủ dài, có thể tính toán trong khoảng 3 năm, để học sinh và phụ huynh có thời gian thích ứng. “Học sinh dựa trên quy định của Bộ GD&ĐT, quy định của từng trường để xây dựng kế hoạch học tập trong 2 - 3 năm. Vì vậy, nếu thay đổi chính sách trong thời gian quá ngắn, chắc chắn sẽ tạo tâm lý hụt hẫng, lo lắng cho học sinh và phụ huynh", thầy Sơn nói.

Giáo viên, học sinh Trường THPT Nguyễn Xuân Ôn (Diễn Châu, Nghệ An). Ảnh: Hồ Lài.
Ông Phan Trọng Đông, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Xuân Ôn (Diễn Châu, Nghệ An), cho rằng quy chế tuyển sinh đại học cần bảo đảm công bằng cho học sinh. Nếu có thay đổi, cần đưa ra lộ trình thực hiện tối thiểu 3 năm, tương ứng với thời gian học THPT.
Theo Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Xuân Ôn, công tác phân luồng, định hướng nghề nghiệp và lựa chọn môn học tự chọn được thực hiện từ năm học sinh vào lớp 10. Nếu thay đổi đột ngột sẽ ảnh hưởng tâm lý và làm xáo trộn kế hoạch học tập.
Đối với điểm cộng ưu tiên cho chứng chỉ và kết quả thi học sinh giỏi, ông Phan Trọng Đông cho rằng cần có sự thống nhất, rõ ràng để bảo đảm quyền lợi công bằng cho thí sinh. Việc quy đổi điểm IELTS hoặc kết quả thi học sinh giỏi thành điểm cộng trong xét tuyển đại học nên được thống nhất, không có sự chênh lệch giữa trường này với trường khác.



