Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế
Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.
Sự bứt phá của tranh Đông Dương
Tâm điểm phiên đấu giá thuộc về La jeune femme de Húe (Thiếu nữ xứ Huế, 1937) - một trong số ít tác phẩm sơn dầu của Mai Trung Thứ còn lưu hành trên thị trường. Tác phẩm ghi nhận mức chốt 7,04 triệu HKD (tương đương khoảng 24 tỉ đồng), gần gấp đôi mức ước tính ban đầu 3-4 triệu HKD. Tác phẩm này được ông sáng tác trong thời gian giảng dạy tại Huế, bức chân dung được cho là khắc họa một thiếu nữ từng để lại dấu ấn sâu đậm trong cảm xúc của ông.

Tác phẩm sơn dầu “Thiếu nữ Huế” (La jeune femme de Húe) của Mai Trung Thứ.
Kế đến là bức lụa "Le petit cours d'eau, la baignade" (Tắm bên dòng suối nhỏ, 1978) - sáng tác thuộc giai đoạn muộn của họa sĩ Mai Trung Thứ - đạt 5,76 triệu HKD (khoảng 20 tỉ đồng), vượt xa khung định giá dự kiến. Và tác phẩm "The Three Bathers” (Ba thiếu nữ tắm, 1938) của họa sĩ Lê Phổ được chốt ở mức 5,12 triệu HKD (hơn 17 tỉ đồng). Theo giám tuyển Ace Lê: "Những kết quả khả quan này là dấu hiệu cho thấy thị trường đang chuyển mình theo chiều tích cực, với thanh khoản dàn đều cho các tác phẩm ở nhiều phân khúc cả tầm cao và tầm trung. Việt Nam, với kinh tế tăng trưởng tốt và nền chính trị ổn định, là bối cảnh hậu thuẫn vững cho các tác phẩm nghệ thuật, thu hút khách đấu từ cả nội địa và quốc tế, với một tỉ lệ lành mạnh thiên về khách trong nước. Đây là một điều kiện tiên quyết cho tầm nhìn xây dựng một thị trường nghệ thuật bền vững".
Thực tế trong nhiều năm qua, các tác phẩm của thế hệ họa sĩ Đông Dương luôn được đánh giá cao trên thị trường quốc tế. Có nhiều lý do để lý giải cho điều này, đó là sự khan hiếm. Các họa sĩ thế hệ Đông Dương như Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Lê Thị Lựu, Vũ Cao Đàm… đã qua đời, số lượng tác phẩm còn lại trên thị trường không nhiều, trong khi nhu cầu sưu tầm ngày càng tăng. Bên cạnh đó là sự "kiểm chứng của thời gian". Những tác phẩm từng được sáng tác từ giữa thế kỷ XX nay đã đi qua nhiều biến động lịch sử, nhưng vẫn giữ được giá trị thẩm mỹ và sức hấp dẫn đối với công chúng quốc tế, điều này giúp củng cố niềm tin với giới sưu tập.
Sự bứt phá của tranh Đông Dương hôm nay không thể tách rời khỏi nền tảng được hình thành từ đầu thế kỷ XX, với sự ra đời của Trường Mỹ thuật Đông Dương. Đây là nơi lần đầu tiên mỹ thuật Việt Nam được đào tạo theo hệ thống hàn lâm phương Tây, nhưng đồng thời cũng là cái nôi của một ngôn ngữ tạo hình độc đáo. Các họa sĩ như Lê Phổ hay Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu… không đơn thuần "học Tây", mà đã biến đổi những kỹ thuật ấy để kể những câu chuyện rất Việt Nam. Những thiếu nữ trong tà áo dài, những khung cảnh đời sống thanh bình, hay những ký ức về quê hương… được thể hiện bằng bảng màu dịu nhẹ, bố cục tinh tế, mang đậm tinh thần Á Đông.
Theo nhà nghiên cứu Ngô Kim Khôi, đây là thời kỳ hoàng kim của mỹ thuật Việt Nam và chính giá trị lịch sử đó khiến cho tranh Đông Dương luôn sáng giá. Những tác phẩm này thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam rõ nét, không lẫn lộn với các nền mỹ thuật khác, và đó chính là giá trị trường cửu. Chính vì vậy, tranh Đông Dương có thể vươn ra thế giới mà không cần phải “thổi giá”. "Tranh Đông Dương hiện đang nằm ở điểm giao thoa hấp dẫn: vừa đủ hiếm để tạo giá trị sưu tầm, vừa đủ 'khác biệt' để thu hút các nhà sưu tập đang tìm kiếm bản sắc ngoài phương Tây", ông nói.
Khi so sánh với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, giá trị tranh của Việt Nam vẫn còn thấp hơn so với các thị trường như Singapore hay Indonesia, mặc dù Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trong khu vực có trường mỹ thuật. Tuy nhiên, thị trường tranh Việt Nam vẫn gặp phải vấn đề tranh giả, điều này đã ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của thị trường. Nếu chúng ta có thể loại bỏ vấn đề tranh giả và chứng minh được giá trị thật của các tác phẩm Đông Dương, chắc chắn giá trị của chúng sẽ tiếp tục tăng.
Làm gì để xây dựng một "làn sóng Đông Dương mới"?
Tuy nhiên, sự thăng hoa của tranh Đông Dương trên thị trường quốc tế lại đặt ra một nghịch lý đáng suy ngẫm: làm thế nào để phát triển thị trường mỹ thuật Việt khi hệ sinh thái nghệ thuật vẫn còn nhiều khoảng trống.

Hai bức lụa chủ đề tắm của Lê Phổ và Mai Trung Thứ được chốt ở mức 5,1 và 5,7 triệu HKD (tức 17 và 19 tỉ VND).
Việt Nam hiện chưa có một thị trường đấu giá chuyên nghiệp đủ mạnh để cạnh tranh hoặc giữ chân các tác phẩm quan trọng. Các gallery hoạt động rời rạc, thiếu chuẩn mực quốc tế, trong khi cơ chế định giá và xác thực tác phẩm còn hạn chế. Điều này khiến phần lớn các giao dịch lớn phải diễn ra ở nước ngoài. Hệ quả là không ít tác phẩm giá trị đã và đang nằm trong các bộ sưu tập tư nhân ở nước ngoài. Công chúng trong nước, vì thế, khó có cơ hội tiếp cận trực tiếp với những tác phẩm được coi là đỉnh cao của mỹ thuật Việt. Đặc biệt nạn tranh giả đang đánh mất niềm tin của nhà sưu tập.
Thành công của thế hệ Đông Dương vô hình trung đặt ra một chuẩn mực cao cho các nghệ sĩ Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có nhiều tên tuổi đạt được vị thế tương tự trên thị trường quốc tế. Một phần nguyên nhân nằm ở sự thiếu hụt của hệ sinh thái hỗ trợ: từ gallery chuyên nghiệp, giám tuyển có tầm ảnh hưởng, đến các quỹ nghệ thuật và mạng lưới kết nối quốc tế. Trong khi đó, nghệ sĩ trẻ lại đang thử nghiệm với nhiều hình thức mới như sắp đặt, video art, nghệ thuật đa phương tiện - những loại hình khó tiếp cận hơn với thị trường truyền thống.
Câu hỏi vì thế không chỉ là làm thế nào để bán được tranh, mà là làm thế nào để xây dựng một "làn sóng Đông Dương mới" - nơi nghệ thuật Việt Nam tiếp tục kể câu chuyện của mình theo cách phù hợp với bối cảnh đương đại. Những mức giá triệu đô tại Sotheby's có thể được xem là một tín hiệu tích cực, cho thấy mỹ thuật Việt Nam đang dần được công nhận trên thị trường toàn cầu. Nhưng đó mới chỉ là một phần của bức tranh. Để sự công nhận này trở nên bền vững, cần nhiều hơn những phiên đấu giá thành công. Đó là việc xây dựng một hệ sinh thái nghệ thuật hoàn chỉnh: từ giáo dục, phê bình, giám tuyển, đến thị trường và định chế văn hóa.
Họa sĩ Đào Hải Phong từng chia sẻ: "Chúng ta phải đi tìm những Lê Phổ, Mai Trung Thứ trong tương lai chứ không phải người ta đã hóa thạch rồi, đã khẳng định rồi mà chúng ta rước về là chúng ta đang chơi đồ cổ. Đó chỉ là công việc tư hữu và đầu cơ thôi. Còn các họa sĩ trẻ đang bươn chải và trả giá cho cả cuộc đời họ để thành nghệ sĩ thì họ không có ai bảo vệ khi mà tranh của họ bây giờ có khi chỉ 100 USD. Phải mua tranh của họ khi chỉ 100 USD để sau này mình có thể bán 20.000 USD, thậm chí 200.000 USD".
Hội họa Đông Dương đã bước ra thế giới bằng chính giá trị nội tại của nó. Nhưng để đứng vững và đi xa, mỹ thuật Việt cần một chiến lược dài hạn - nơi giá trị văn hóa không chỉ được đo bằng những con số trên sàn đấu giá, mà còn được nuôi dưỡng và gìn giữ ngay trên chính mảnh đất đã sinh ra nó. Và những trăn trở của họa sĩ Đào Hải Phong cũng chính là vấn đề mà công chúng yêu nghệ thuật cần suy nghĩ khi chúng ta muốn xây dựng và phát triển một thị trường mỹ thuật bền vững trong tương lai.





![[Video] Khai mạc Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa, du lịch Đất Tổ năm 2026](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_04_18_14_54967319/b893fafe0bb6e2e8bba7.jpg)





