Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Tháng 5/1941 với vấn đề nhận định thời cuộc, nắm bắt thời cơ, chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng giải phóng dân tộc
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trước những chuyển biến nhanh chóng của thời cuộc, Đảng đã có những dự báo chuẩn xác về thời cơ và lãnh đạo chớp thời cơ thực hiện mục tiêu chiến lược của cách mạng. Trong thời kỳ đấu tranh giành lại độc lập dân tộc, theo dõi sát sao diễn biến tình hình cuộc Chiến tranh thế giới thứ II, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (họp từ ngày 10 - 19/5/1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã bàn nhiều vấn đề hệ trọng của cách mạng. Với nhãn quan nhạy bén phân tích tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trong nước và cục diện tình hình thế giới, Đảng đã dự báo chuẩn xác thời cơ khởi nghĩa, thúc đẩy quá trình chuẩn bị lực lượng để chớp thời cơ. Hội nghị đã đánh dấu một bước tiến đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và để lại những bài học quý báu về đánh giá và chớp thời cơ trong tiến trình cách mạng Việt Nam.

PGS.TS Trịnh Thị Hồng Hạnh, Giảng viên Cao cấp, Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tham luận tại Hội thảo khoa học “Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I (tháng 5/1941), tầm nhìn chiến lược của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước”, tổ chức tại tỉnh Cao Bằng, ngày 18/5/2026.
Nhận định, đánh giá sâu sắc chuyển biến của thời cuộc, dự báo chuẩn xác về thời cơ, chủ động nắm bắt thời cơ
Đầu năm 1941, cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai lan rộng, lôi cuốn nhiều dân tộc trên thế giới tham gia. Ngay khi chiến tranh thế giới nổ ra (9/1939), ở Đông Dương, thực dân Pháp phát xít hóa bộ máy cai trị, quân nhân hóa bộ máy thống trị, khủng bố phong trào đấu tranh, thủ tiêu mọi quyền tự do, dân chủ mà nhân dân Việt Nam giành được trong những năm 1936 - 1939. Ở châu Á, phát xít Nhật nhanh chóng mở rộng chiến tranh ở Thái Bình Dương, trong đó có chủ trương “Nam tiến”, tràn xuống khu vực Đông Nam Á để tận dụng thời cơ tước đoạt các thuộc địa của Anh, Pháp và Hà Lan. Theo dõi những bước tiến của quân đội Đức ở châu Âu, trước tình hình nước Pháp đang khốn quẫn, ngày 22/9/1940, quân đội Nhật vượt biên giới Việt Nam - Trung Quốc, tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng. Ngày 23/9/1940, tại Hà Nội, Pháp ký Hiệp định đầu hàng Nhật. Quân Pháp đầu hàng đồng thời cấu kết với quân Nhật, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Đông Dương. Đối với Pháp, việc phải đầu hàng phát xít Đức (6/1940), bị quân Đức chiếm đóng là một biến cố lịch sử đặc biệt quan trọng, có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến diễn trình các xứ thuộc địa Pháp, trong đó có Việt Nam.
Do hoàn cảnh chiến tranh, quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đông Dương và Quốc tế Cộng sản bị gián đoạn từ năm 1940.
Theo dõi tình hình cuộc chiến tranh, với nhãn quan chính trị nhạy bén, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từ Liên Xô đến Nam Trung Quốc cuối tháng 2/1940, mở đầu một giai đoạn hoạt động có ý nghĩa bản lề, trực tiếp chuẩn bị cho sự kiện trở về Tổ quốc sau ba mươi năm bôn ba ở nước ngoài. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc với cơ sở của Đảng ở Côn Minh, trực tiếp chỉ đạo việc củng cố cơ sở Đảng ở Nam Trung Quốc, chuẩn bị đón bắt thời cơ mới.
Ngay sau khi được tin Paris thất thủ, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hội ý với các cán bộ Đảng đang hoạt động tại Hoa Nam, quyết định nhanh chóng tìm đường về nước. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lập tức triệu tập một cuộc họp với một số cán bộ của Đảng tại Côn Minh (Phùng Chí Kiên, Vũ Anh...). Nguyễn Ái Quốc nhận định thời cơ cho bước phát triển quyết định của cách mạng Việt Nam đã tới, phải “...mau chóng trở về nước hoạt động, chuẩn bị mọi mặt chờ thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền”. Nguyễn Ái Quốc nhận định: “lúc này mà chậm trễ là có tội với dân tộc”.
Trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam trước khi rời Trung Quốc, Người luôn chú tâm theo dõi các diễn biến mới của cuộc chiến tranh thế giới, tìm hiểu rõ về âm mưu “Hoa quân nhập Việt” của quân Tưởng Giới Thạch, về tình hình các nhóm người Việt đang hoạt động ở Hoa Nam, và đặc biệt tìm hiểu tình hình cách mạng trong nước, nung nấu, dự kiến những quyết sách chiến lược mới đưa cách mạng Việt Nam tiến lên trong giai đoạn quyết định.
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước chuyển biến nhanh chóng, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Cao Bằng làm nơi trực tiếp chỉ đạo xây dựng căn cứ cách mạng và chuẩn bị cho sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, đây là một quyết định mang tính chiến lược sâu sắc. Tại Cao Bằng, Người bắt tay xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức quần chúng, tiến hành chuẩn bị cho Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc và các cán bộ đảng khẩn trương tập trung vào hai công việc chính. Thứ nhất, nhân danh đại biểu của Quốc tế Cộng sản, Người gửi thư triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương để xác định chiến lược và sách lược cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Thứ hai, tổ chức vận động các tầng lớp dân chúng địa phương, huấn luyện cán bộ thí điểm, xây dựng các hội cứu quốc, xây dựng vùng Pác Bó thành căn cứ, chỗ đứng chân vững chắc cho cách mạng Việt Nam.
Với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (họp từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941) tại Khuổi Nặm làng Pác Bó (Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng). Hội nghị đã phân tích sâu sắc tình hình thế giới, nguồn gốc, diễn biến chính, những đặc điểm của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II.
Trong giai đoạn này, vấn đề nhận định thời cơ cách mạng được Đảng đặc biệt chú trọng. Ngay sau khi Chiến tranh thế giới xảy ra, ngày 29/9/1939, Ban Trung ương Đảng đã ra Thông cáo cho các đồng chí cấp bộ, nhận định: Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng, hoàn toàn vấn đề ấy mau hay chậm là tùy theo tình hình thế giới và năng lực của các đồng chí. Đây là một nhận định vô cùng quan trọng, báo hiệu sự thay đổi chiến lược cách mạng của Đảng trong tình hình mới. Trung ương Đảng chỉ rõ hai yếu tố chủ quan (năng lực vận động của bản thân Đảng) và khách quan (tình hình thế giới) tác động tới vận mệnh dân tộc.
Thời cơ hợp thành tình thế cách mạng, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, có ba nhân tố chủ yếu sau:
Thứ nhất: giai cấp và tầng lớp thống trị bên trên đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng, không thể kiểm soát nổi tình hình, trở nên bất lực, không còn có chế độ thống trị như cũ được nữa.
Thứ hai: các giai cấp và tầng lớp bị trị bên dưới cũng rơi vào tình trạng cơ cực, bị bần cùng không thể chịu đựng được nữa, không thể sống nổi nữa. Mâu thuẫn đã gay gắt đến cực độ và quần chúng đã sẵn sàng đi tới một hành động giải phóng.
Thứ ba: tầng lớp, bộ phận trung gian, những người trí thức yêu nước, có tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những người có tinh thần dân tộc, kể cả một bộ phận trong giai cấp hữu sản nhưng gần với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử, ngã về phía cách mạng. Tương quan lực lượng có lợi cho phía cách mạng. Hội đủ những điều kiện đó, về cơ bản, tình thế cách mạng đã chín muồi.
Tiếp nối tư duy của Trung ương Đảng năm 1939, theo dõi và phân tích sâu sắc tình hình, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng 5/1941 đánh giá hậu quả và dự báo về chiều hướng phát triển cuộc chiến tranh thế giới thứ II: “cuộc đế quốc chiến tranh lần này gây ra bởi sự mâu thuẫn quá sâu sắc giữa các đế quốc... đem đến một tai hại thứ nhất là giết hại nhân loại, lại còn đem lại một hậu quả thứ hai là tụi đế quốc tự giết nhau, tự tiêu hao lực lượng nhau”. Hội nghị đánh giá về phong trào cách mạng trên thế giới: nếu cuộc đế quốc chiến tranh càng dữ dội, càng tiến triển mau thì phong trào cách mạng càng do đó mà bành trướng mau lẹ ở châu Âu, châu Phi, châu Á, châu Mỹ.
Về tình hình Đông Dương, Hội nghị phân tích kỹ các chính sách, thủ đoạn đàn áp, bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật, xác định rõ kẻ thù của cách mạng Đông Dương là đế quốc phát xít Pháp - Nhật. Hội nghị cũng đi sâu phân tích tình cảnh và thái độ của các giai tầng trong xã hội Đông Dương, nhận diện một số xu hướng, phong trào chính trị - xã hội và đảng phái mới xuất hiện. Hội nghị nhận định về sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa của binh lính Đô Lương.Từ đó, Hội nghị đi đến kết luận quan trọng: “Đế quốc Pháp - Nhật chẳng những áp bức các giai cấp thợ thuyền, dân cày, mà chúng nó áp bức, bóc lột cả các dân tộc, không chừa một hạng nào. Dẫu là anh tư bản, anh địa chủ, một anh thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể nào sống được. Quyền lợi tất cả các giai cấp đều bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng”.
Hội nghị nhận định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Hội nghị khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát xít”. Vận mệnh của Đông Dương gắn liền với vận mệnh của Liên Xô; đồng thời, cũng gắn liền với cách mạng Trung Quốc. Hội nghị nhận định “Tình hình thế giới sẽ biến chuyển ghê gớm làm cho tình hình Đông Dương thay đổi, có lợi cho cách mạng”.
Hội nghị đưa ra nhận định khoa học và táo bạo: thời cơ sẽ đến với nhiều nước trên thế giới khi chiến tranh thế giới kết thúc, phần thắng thuộc về Liên Xô và phe dân chủ. (thời điểm này phát xít Đức chưa tấn công Liên Xô, Liên Xô chưa tham chiến. Ngày 22/6/1941, phát xít tấn công Liên Xô, mở ra mặt trận phía Đông ở châu Âu, mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn thế giới. Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô bắt đầu). Hội nghị nêu nhận định “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”.
Nhận định này là một phán đoán chiến lược vô cùng sắc bén, táo bạo và hoàn toàn chính xác về cục diện, xu hướng diễn biến của tình hình thế giới,giúp cho Đảng xác định đúng phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đó là một khả năng làm xuất hiện thời cơ có lợi cho cách mạng nhiều nước, trong đó có cách mạng nước ta.
Từ những phân tích, nhận định sâu sắc, nhạy bén trên đây, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5/1941 đã đi đến quyết định Đảng “Cần phải thay đổi chiến lược”, tập trung vào nhiệm vụ cần kíp “dân tộc giải phóng”. “Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, sự thay đổi thái độ, lực lượng các giai cấp Đông Dương buộc Đảng phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân..., cho hợp với tình hình thay đổi”. “Đảng ta phải có một chính sách cách mạng thích hợp với tình trạng ấy, mới chỉ dẫn cuộc cách mạng đến thắng lợi chắc chắn được”. “Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương hợp với nguyện vọng chung của tất cả nhân dân Đông Dương” .
Đây là một quyết định tác động trực tiếp và toàn diện đến quá trình chuẩn bị với tinh thần chủ động, tích cực của toàn Đảng cho công cuộc đấu tranh giành chính quyền
Khẳng định chuẩn bị sẵn sàng về nội lực là yếu tố, điều kiện tiên quyết để chớp thời cơ
Một trong những vấn đề mà hội nghị tập trung thảo luận chính là vấn đề khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Đây là lần đầu tiên vấn đề này được đưa vào chương trình nghị sự của một hội nghị Trung ương của Đảng. Trên cơ sở phân tích diễn biến cuộc chiến tranh thế giới và tình hình trong nước, Hội nghị đã đi tới các phán đoán tài tình về kết cục của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và đặc biệt là về chiến cuộc ở khu vực Thái Bình Dương với chiến thắng thuộc về phe Đồng minh và thất bại không tránh khỏi của Nhật Bản và phe Trục. Kết quả là: “Lúc ấy cả thế giới như một nồi nước sôi và tình hình cách mạng Đông Dương bước những bước vĩ đại để dọn đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa mạnh mẽ”. Và “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”.
Do đó, nhiệm vụ của những người cộng sản và của toàn dân tộc Việt Nam là phải kiên trì và tích cực chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng khởi nghĩa.
Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng trong giai đoạn hiện tại. Muốn cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi phải có đủ những điều kiện khách quan và chủ quan, phải chọn đúng thời cơ cách mạng. Những điều kiện đó là:
1. Mặt trận cứu quốc đã thống nhất được toàn quốc.
2. Nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp - Nhật, mà đã sẵn sàng hy sinh bước vào con đường khởi nghĩa.
3. Phe thống trị Đông Dương đã bước vào cuộc khủng hoảng phổ thông đến cực điểm vừa về kinh tế, chính trị lẫn quân sự.
4. Những điều kiện khách quan tiện lợi cho cho cuộc khởi nghĩa Đông Dương như quân Tàu đại thắng quân Nhật, Cách mạng Pháp hay Cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng các thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Tàu hay quân Anh - Mỹ tràn vào Đông Dương....
Đối với điều kiện chủ quan, muốn có một lực lượng toàn quốc đủ sức thực hiện và củng cố thắng lợi của cuộc khởi nghĩa thì Đảng phải: mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có làm cho các đoàn thể có một tinh thần hy sinh tranh đấu, sẵn sàng khởi nghĩa; mở rộng các tổ chức vào những nơi thành thị, sản nghiệp, hầm mỏ, đồn điền; mở rộng tổ chức vào các tỉnh phong trào còn yếu và dân tộc thiểu số; đào luyện cho các đảng viện cộng sản có một tinh thần cương quyết hy sinh; đào luyện cho các đảng viên đủ năng lực và kinh nghiệm, đủ sức chỉ huy và xoay xở tình thế; phải có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc.
Từ kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, căn cứ vào tình thế biến chuyển nhanh chóng, tạo điều kiện khách quan cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, Đảng chủ trương phải phát huy tính tích cực, chủ động, cách mạng, phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng khi thời cơ đến.
“Lúc ấy cả thế giới như một nồi nước sôi và tình hình cách mạng Đông Dương bước những bước vĩ đại để dọn đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa mạnh mẽ”.
“Nói thế không phải ta ngồi mà ỷ lại đâu đâu (TG nhấn mạnh). Trái lại, ta phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù, nghĩa là nay mai đây cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn cho cuộc cách mạng Đông Dương thắng lợi, thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” .
Đảng chủ trương động viên, tổ chức và đoàn kết lực lượng của toàn dân trong Mặt trận Việt Minh, với những chính sách hiệu triệu, giải quyết hài hòa lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi thiết thực của các tầng lớp xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Mặt trận Việt Minh tuyên truyền, cổ động mở rộng các Hội Cứu quốc trong các giai cấp, tầng lớp nhân dân, thu hẹp lực lượng chống đối và lừng chừng, tạo nên một lực lượng chính trị hùng mạnh. Ðảng chỉ đạo phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, lãnh đạo nhân dân tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để khi có thời cơ, tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Chú trọng công tác xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ, Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh: “Việc đào tạo cán bộ nay đã trở thành công tác gấp rút, không thể bỏ qua một giờ phút. Tất cả các cấp bộ chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này…làm cho cán bộ tiến cả về mặt lý thuyết lẫn thực hành công tác”. Xây dựng một Đảng Mác - Lê nin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền củng cố hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt ở những nơi đô thị tập trung, đồn điền, hầm mỏ đến các hương thôn, sau nữa là các dân tộc thiểu số, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo công cuộc chuẩn bị và tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc.
Hội nghị đã phân tích và đưa ra phán đoán khoa học rất táo bạo về thời cơ của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra rằng những phán đoán sai về thời cơ sẽ dẫn đến những cuộc khởi nghĩa non và những tổn thất to lớn. Vì vậy, việc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5/1941 phân tích một cách khoa học và đưa ra những dự báo về thời cơ của cuộc tổng khởi nghĩa chính là những chỉ dẫn có giá trị thực tiễn cao, đóng góp rất to lớn vào quá trình xây dựng và chuẩn bị lực lượng cho thắng lợi cuối cùng của toàn bộ cuộc vận động cứu nước. Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 có ý nghĩa to lớn trong tiến trình hoạch định đường lối và quá trình thực hiện cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giữa lúc phát xít Đức đang mở rộng chiến tranh ở Châu Âu, chuẩn bị tấn công Liên Xô, giữa lúc phát xít Nhật bành trướng thế lực ở Viễn Đông, tiến quân vào Đông Dương, nhân dân Đông Dương đang quằn quại dưới hai tầng xiềng xích Pháp - Nhật thì hội nghị đã nhìn thấy tiền đồ tươi sáng của cách mạng Việt Nam
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 đã đánh dấu một bước tiến mới của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. Ngày 9-5-1945, Đức đầu hàng Liên Xô và Đồng Minh. Sau khi dập tắt lò lửa chiến tranh ở phía Tây, ngày 9/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật. Chỉ một tuần lễ, quân đội Xô viết đã tiêu diệt hoàn toàn 1 triệu quân Quan Đông thiện chiến của Nhật. Ngày 14/8/1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng không điều kiện quân Đồng Minh. Chiến thắng của Liên Xô và các nước Đồng Minh đối với chủ nghĩa phát xít năm 1945 tạo ra điều kiện khách quan vô cùng thuận lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc, trong đó có cách mạng Việt Nam. Những điều kiện khách quan và chủ quan cho cuộc tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Thời cơ cách mạng nghìn năm có một đã đến cho dân tộc. Sau quá trình đấu tranh và chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Đảng lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng tháng Tám thành công. Cách mạng tháng Tám là điển hình của nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Đảng. Năng lực lãnh đạo của Đảng thể hiện rõ nét ở thời điểm quyết định thay đổi vận mệnh dân tộc từ nô lệ tiến tới độc lập, tự do. Sức mạnh các giai cấp và toàn dân tộc được nhân lên cấp độ cao nhất, tinh thần chủ động, tự cường, sẵn sàng “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5/1941 thể hiện sự trưởng thành vượt bậc của Đảng về tư duy cách mạng, về lãnh đạo chính trị, độc lập, tự chủ trong xác định đường lối. Với quyết định thay đổi chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, với quyết định thành lập mặt trận Việt Minh, đổi mới hoàn toàn phương châm vận động quần chúng và xây dựng lực lượng, với những phán đoán tài tình về thời cơ và hình thái của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 có tầm quan trọng đặc biệt, mở đường đi tới thắng lợi cuối cùng cho toàn bộ cuộc vận động cứu nước của dân tộc Việt Nam.











