Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV: Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị
Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh yêu cầu cấp bách về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu cấp bách về đổi mới phương thức lãnh đạo, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Đáng chú ý, đổi mới không chỉ dừng lại ở việc thu gọn, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, mà đòi hỏi sự thay đổi căn bản trong cách vận hành: phân định rõ thẩm quyền, khắc phục triệt để tình trạng "bao biện, làm thay" hay "xin ý kiến nhiều vòng", đồng thời đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu và công nghệ trong công tác tham mưu, dự báo.
Nhìn từ góc độ quản trị hệ thống và thực tiễn tổ chức, phóng viên đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Phạm S, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Phó Chủ tịch Hội Kỷ lục gia Việt Nam, để phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp khả thi cho vấn đề này.
Phóng viên: Thưa Tiến sĩ Phạm S, trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh “Không thể chỉ sắp xếp lại bộ máy mà giữ nguyên cách làm việc không còn phù hợp”. Nhìn từ góc độ quản trị hệ thống và tổ chức, ông đánh giá như thế nào về nguy cơ “bình mới rượu cũ” nếu chúng ta chỉ tinh gọn cơ cấu tổ chức nhưng chậm thay đổi tư duy và quy trình làm việc?
Tiến sĩ Phạm S: Hội nghị Trung ương 4 đặt đúng trọng tâm khi yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền phải đi cùng mô hình tổ chức: thống nhất về định hướng, phân định rõ trách nhiệm, phát huy đầy đủ thẩm quyền và tính chủ động của từng cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị.
Nói cách khác, Đảng giữ vai trò lãnh đạo toàn diện bằng đường lối, định hướng chiến lược, công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát và sự gương mẫu; không thay thế chức năng của cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội. Trung ương quyết những vấn đề lớn, liên ngành, liên vùng, có ý nghĩa lâu dài. Cơ quan được giao thẩm quyền phải chủ động cụ thể hóa và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Nếu thiếu bước này, “bình mới rượu cũ” sẽ biểu hiện rất cụ thể: ít phòng ban hơn nhưng nhiều vòng trình hơn; ít cấp hơn nhưng nhiều văn bản “xin ý kiến chỉ đạo” hơn; báo cáo dày hơn nhưng chất lượng thực hiện nhiệm vụ chậm chuyển biến.
Theo tôi, đổi mới thực chất phải được đo bằng thời gian xử lý việc thuộc thẩm quyền, tỷ lệ việc được quyết đúng cấp, và mức độ quy được trách nhiệm khi kết quả không đạt, chứ không đo bằng số đơn vị đã sáp nhập. Bây giờ có đủ mọi điều kiện từ đào tạo cán bộ, nhận thức công dân, chuyển đổi số, AI, thể chế rất đầy đủ thì yêu cầu các tổ chức phải có trách nhiệm cao hơn. Cần thực hiện theo thẩm quyền, thước đo hiệu quả công việc không phải là thời gian làm việc đủ trong ngày, thực hiện các nhiệm vụ cấp trên giao mang tính chung chung, mà là sản phẩm cụ thể mang tính đột phá.

Phiên khai mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Phóng viên: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhắc đến tình trạng “bao biện, làm thay, buông lỏng lãnh đạo và xin ý kiến nhiều vòng đối với việc thuộc thẩm quyền”. Từ thực tiễn làm công tác quản lý, ông nhận diện đâu là lý do cốt lõi khiến các cơ quan, đơn vị được giao thẩm quyền nhưng vẫn e ngại, phụ thuộc và chưa chủ động “đúng vai, thuộc bài”?
Tiến sĩ Phạm S: Qua thực tiễn công tác và trải nghiệm thực tế, theo tôi có bốn nguyên nhân chủ yếu:
Một là, ranh giới giữa lãnh đạo và điều hành chưa được vận hành thành quy tắc rõ ràng. “Bao biện, làm thay” và “buông lỏng” tưởng như hai cực, nhưng đều xuất phát từ việc chưa phân định việc nào thuộc định hướng, việc nào thuộc thẩm quyền thực thi. Cấp trên ôm việc của cấp dưới thì cấp dưới mất thói quen, năng lực quyết định. Cấp trên buông việc thuộc trách nhiệm lãnh đạo thì cấp dưới mất phương hướng.
Còn nhớ, trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh Trung ương không làm thay địa phương, cấp tỉnh không ôm giữ việc cấp xã có thể làm tốt; khi cấp xã chưa đủ thẩm quyền, nhân lực, tài chính, dữ liệu và công cụ thì cấp tỉnh phải tháo gỡ, không để tồn đọng. Đó là chuẩn mực cần được cụ thể hóa thành danh mục việc, không dừng ở nguyên tắc.
Hai là, phân cấp chưa đi cùng điều kiện thực hiện. Quyền mà không có người, không có kinh phí, không có dữ liệu dùng chung, không có quy trình liên thông thì chỉ là quyền trên giấy. Người đứng đầu biết mình sẽ bị hỏi trách nhiệm, nhưng không có công cụ để làm đúng, nên chọn cách “xin ý kiến” để san sẻ rủi ro.
Ba là, cơ chế đánh giá vẫn nghiêng về sự an toàn quy trình hơn là chất lượng sản phẩm. Một hồ sơ đi đủ vòng, có đủ chữ ký, dù chậm, thường ít bị xem là sai hơn một quyết định đúng thẩm quyền, đúng hạn, nhưng có nhiều ý kiến khác nhau. Khi “không sai” được thưởng cao hơn “làm đúng việc”, sự e ngại là hệ quả tất yếu.
Bốn là, trách nhiệm cá nhân chưa được cá thể hóa đến cùng. Quy chế làm việc của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV đã nhấn mạnh phân công, phân cấp, ủy quyền gắn với kiểm soát quyền lực và cá thể hóa trách nhiệm. Nhưng ở nhiều nơi, trách nhiệm vẫn là trách nhiệm tập thể theo nghĩa không ai phải đứng tên đối với kết quả cuối.
“Đúng vai, thuộc bài” chỉ thành hiện thực khi bốn việc ấy được khóa lại cùng lúc: rõ việc nào không được làm thay, rõ điều kiện kèm theo khi giao quyền, đánh giá bằng sản phẩm và thời hạn, và người quyết phải ký nhận trách nhiệm.
Phóng viên: Để các quyết sách thực sự có chất lượng hơn và khắc phục triệt để tình trạng “nhiều văn bản, nhiều cuộc họp nhưng công việc chậm chuyển biến”, ông có đề xuất giải pháp đột phá nào, đặc biệt là việc ứng dụng dữ liệu, công nghệ hiện đại trong tham mưu, dự báo đi đôi với nâng cao trách nhiệm cá nhân của người quyết định theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4?
Tiến sĩ Phạm S: Tôi đề xuất một cụm giải pháp, không tách rời nhau, vì dữ liệu mà không gắn với người quyết thì chỉ tạo thêm một lớp báo cáo mới.
Thứ nhất, lập “bản đồ thẩm quyền sống”, cập nhật theo thời gian thực, cho từng lĩnh vực. Mỗi việc phải trả lời được sáu câu hỏi: “ai chủ trì, ai phối hợp, thẩm quyền đến đâu, điều kiện nào là đủ để được quyết, thời hạn nào phải xong, sản phẩm nào được coi là hoàn thành”. Việc đã có trong bản đồ thì không được đưa vào vòng xin ý kiến, trừ khi phát sinh yếu tố liên ngành, liên vùng hoặc vượt năng lực đã được xác định. Đây là cách thể chế hóa yêu cầu của Hội nghị Trung ương 4: Trung ương quyết vấn đề lớn; cơ quan được giao quyền chủ động cụ thể hóa và chịu trách nhiệm.
Thứ hai, chuyển tham mưu từ “văn bản kể việc” sang “hồ sơ phương án có dữ liệu”. Chất lượng lãnh đạo phải được nâng từ khâu phát hiện vấn đề, dự báo, lựa chọn phương án đến quyết định, kiểm tra và điều chỉnh. Mỗi tờ trình thuộc nhóm việc quan trọng nên có tối thiểu ba phương án, mỗi phương án gắn với dữ liệu gốc, giả định, rủi ro và chỉ số đo sau khi thực hiện. Dữ liệu và công nghệ dùng để nhận diện sớm nguy cơ, đối chiếu liên ngành, mô phỏng hệ quả, nhưng không thay thế trách nhiệm của tổ chức và người quyết. Người ký phải ghi rõ phương án được chọn và lý do không chọn phương án còn lại, tránh việc quá dựa vào tập thể và không chịu trách nhiệm cá nhân theo thẩm quyền.
Thứ ba, xây nền tảng dữ liệu dùng chung theo nguyên tắc “một sự việc, một hồ sơ, nhiều cấp cùng thấy”. Phân cấp trong mô hình hai cấp chỉ tạo được năng lực hành động khi quyền hạn, trách nhiệm và điều kiện thực hiện đi cùng nhau. Cấp xã là tuyến đầu phục vụ người dân và doanh nghiệp; nếu không có dữ liệu dân cư, đất đai, doanh nghiệp, ngân sách và tiến độ dự án được chia sẻ đúng thẩm quyền, thì phân quyền chỉ là chuyển chỗ tắc nghẽn xuống gần dân hơn. Công nghệ ở đây không phải là thêm cổng thông tin, mà là xóa các vòng xin số liệu mà cấp dưới vốn đã có.
Thứ tư, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả đo được và bảo vệ người dám quyết đúng quy định. Sau mỗi chu kỳ, đối chiếu quyết định với chỉ số đã cam kết; hạn chế tối đa việc lãnh đạo một cơ quan có thẩm quyền hứa trước dân/cấp dưới nhưng hết thời hạn không thực hiện được. Đạt thì ghi nhận. Không đạt vì lý do chủ quan thì xem xét trách nhiệm người đứng tên, không dừng ở kiểm điểm chung. Không đạt vì điều kiện được giao không đủ thì trách nhiệm thuộc cấp đã phân quyền mà không kèm nguồn lực. Đặc biệt, cần cơ chế phân biệt rõ sai phạm với rủi ro của quyết định đổi mới đúng thẩm quyền, đúng trình tự.
Thứ năm, đổi cách kiểm tra: từ kiểm tra hồ sơ sang kiểm tra độ trễ và độ lệch. Một đơn vị phát hành nhiều văn bản, họp nhiều, nhưng việc thuộc thẩm quyền vẫn tồn quá hạn, thì đó là tín hiệu bao biện hoặc đùn đẩy, không phải tín hiệu siêng năng. Ngược lại, một đơn vị ít văn bản hơn, quyết đúng cấp, đúng hạn, có dữ liệu theo dõi sau quyết định, thì đó mới là lãnh đạo có chất lượng.
Nếu năm việc này được làm đồng bộ, “nhiều văn bản, nhiều cuộc họp” sẽ không còn là thước đo của sự chỉ đạo. Khi đó, thước đo chính là khoảng cách giữa chủ trương và kết quả đúng như yêu cầu Hội nghị Trung ương 4 đã đặt ra: quyết sách có chất lượng hơn, bộ máy chủ động hơn, công việc được giải quyết tốt hơn và cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ được vận hành thực chất hơn.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!
