Hơn 24.500 phụ nữ mắc ung thư vú mỗi năm, Bộ Y tế hướng dẫn cách sàng lọc 10 phút ngay tại trạm y tế
Hơn 60% ca ung thư vú ở nước ta phát hiện giai đoạn muộn. Theo hướng dẫn mới nhất của Bộ Y tế, phụ nữ từ 40 tuổi trở lên nên được khám lâm sàng vú hằng năm, trong khi nhóm nguy cơ cao cần được khám định kỳ 6-12 tháng/lần.
Quy trình khám lâm sàng phát hiện ung thư vú có thể thực hiện tại trạm y tế xã, phường, đặc khu, thời gian khoảng 10 phút. Từ 40 tuổi trở lên, phụ nữ nguy cơ trung bình nên khám 1 năm/lần.
Hơn 24.500 phụ nữ mắc ung thư vú mỗi năm
Bộ Y tế vừa ban hành Hướng dẫn quy trình kỹ thuật sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú bằng phương pháp khám lâm sàng, nhằm chuẩn hóa việc phát hiện bệnh ngay từ tuyến y tế cơ sở.
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, ung thư vú là ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn cầu, với tỷ suất 46,8/100.000 phụ nữ và tỷ suất tử vong chuẩn theo tuổi là 12,7/100.000 phụ nữ.
Theo ước tính của Cơ quan Nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), tại Việt Nam, năm 2022 ghi nhận 24.563 trường hợp mắc mới (chiếm 13,6%) và khoảng 10.000 trường hợp phụ nữ tử vong (chiếm 8,3%) do ung thư vú. Tỷ suất mắc mới chuẩn theo tuổi là 38/100.000 người, tỷ suất tử vong chuẩn theo tuổi là 14,7/100.000 người.

Hơn 24.500 phụ nữ mắc ung thư vú mỗi năm. Ảnh: Bệnh viện K
Tại Việt Nam, phần lớn người bệnh ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn muộn (trên 60% ở giai đoạn III - IV), làm giảm hiệu quả điều trị và tăng chi phí chăm sóc. Tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ khoảng 74%, thấp hơn nhiều quốc gia phát triển.
Tỷ lệ phụ nữ thực hiện sàng lọc còn thấp (khám lâm sàng vú 22-51%, tự khám vú 14-19%, và rất ít người trong nhóm tuổi mục tiêu được chụp Xquang vú định kỳ).
Theo Bộ Y tế mặc dù độ chính xác không cao bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, phương pháp khám lâm sàng vẫn có giá trị trong việc phát hiện các khối u xâm lấn (với độ nhạy khoảng 54% và độ đặc hiệu 94%) và không gây ra tình trạng chẩn đoán hoặc điều trị quá mức đáng kể. Đây là biện pháp đơn giản, không đòi hỏi kỹ thuật cao, hoàn toàn phù hợp với Trạm y tế xã và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc cấp ban đầu.
Khi phát hiện các dấu hiệu bất thường, nghi ngờ ung thư, người bệnh cần được tư vấn, chuyển đến cơ sở chuyên khoa để được thăm khám, chẩn đoán và xử trí kịp thời.
Người thực hiện là nhân viên y tế có phạm vi hành nghề phù hợp và đã được đào tạo kỹ thuật khám lâm sàng vú. Trường hợp người khám là nam cần tuân thủ nguyên tắc 3 người để bảo đảm quyền riêng tư cho người bệnh.
Quy trình khám lâm sàng sàng lọc ung thư vú gồm 6 bước:
Hỏi bệnh: Khai thác tiền sử gia đình, tiền sử bản thân, yếu tố nguy cơ, các triệu chứng bất thường ở vú và dấu hiệu gợi ý di căn; từ đó phân loại nguy cơ và tư vấn lịch sàng lọc;
Quan sát: Người bệnh được quan sát ở 3 tư thế: buông tay, giơ tay và chống tay vào hông. Bác sĩ đánh giá sự thay đổi về kích thước, hình dạng vú; da vú và núm vú, đặc biệt các dấu hiệu như sần da cam, đỏ da, loét, co kéo hoặc thay đổi núm vú;
Sờ nắn vú và núm vú: Khám toàn bộ tuyến vú ở tư thế ngồi và nằm, đồng thời kiểm tra tiết dịch núm vú. Nếu phát hiện khối bất thường, cần ghi nhận kích thước, vị trí, mật độ, độ di động và tình trạng co kéo da;
Khám hạch vùng: Kiểm tra hạch nách, hạch thượng đòn và hạch hạ đòn, đánh giá số lượng, kích thước, mật độ, độ di động và tình trạng đau của hạch;
Ghi chép hồ sơ: Ghi đầy đủ thông tin cá nhân, kết quả sàng lọc và hướng xử trí vào sổ khám bệnh hoặc hồ sơ người bệnh;
Đánh giá, xử trí và tư vấn: Dựa trên kết quả khám để đánh giá nguy cơ, tư vấn và chuyển người bệnh lên tuyến chuyên môn phù hợp khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ.
Những nhóm phụ nữ có nguy cơ cao mắc ung thư vú
Theo Bộ Y tế, mọi phụ nữ đều có nguy cơ mắc ung thư vú, nguy cơ mắc ung thư vú tăng theo tuổi và khi xuất hiện thêm các yếu tố nguy cơ. Nguy cơ ung thư vú có thể thay đổi trong suốt cuộc đời do sự xuất hiện của các yếu tố làm tăng hoặc giảm nguy cơ ung thư vú. Vì vậy, với mỗi lần đến khám phụ nữ đều phải được phân nhóm nguy cơ ung thư vú.
Việc phân nhóm nguy cơ ung thư vú sẽ là cơ sở đề xuất các phương thức và tần suất sàng lọc cũng như các xét nghiệm di truyền. Hiện nay, tất cả các phụ nữ trong cộng đồng được xếp vào 2 nhóm nguy cơ: nguy cơ trung bình và nguy cơ cao.
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, đối với phụ nữ có nguy cơ trung bình, từ 25 đến 39 tuổi nên khám lâm sàng vú từ 1-3 năm/lần; Từ 40 tuổi trở lên nên khám mỗi năm một lần;
Đối với phụ nữ thuộc nhóm nguy cơ cao, cần khám lâm sàng định kỳ 6-12 tháng/lần. Đối với phụ nữ trẻ thuộc nhóm nguy cơ cao, Bộ Y tế khuyến cáo bắt đầu sàng lọc từ 25 tuổi với tần suất mỗi năm một lần. Nếu có điều kiện, nên kết hợp chụp x-quang tuyến vú hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú.

Bộ Y tế hướng dẫn quy trình sàng lọc ung thư vú chỉ trong khoảng 10 phút. Ảnh: Bích Thuỷ
Đối với phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, ngoài khám lâm sàng hằng năm, nên kết hợp chụp x-quang tuyến vú định kỳ mỗi 1-2 năm nếu có điều kiện.
Ngoài ra, những phụ nữ tự khám tại nhà và phát hiện dấu hiệu bất thường ở vú cũng cần đến cơ sở y tế để được thăm khám.
Nhóm phụ nữ có nguy cơ cao mắc ung thư vú là phụ nữ có một trong các yếu tố sau được xếp vào nhóm có nguy cơ cao:
Trong gia đình có ít nhất một người quan hệ huyết thống bậc 1 (mẹ, chị/em gái hoặc con gái) mắc ung thư vú;
Mang đột biến gen làm tăng nguy cơ ung thư vú, ví dụ BRCA1/2, PTEN, TP53, CDH1, PALB2, STK11;
Có tổn thương ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ hoặc quá sản không điển hình;
Có tiền sử xạ trị vùng ngực ở độ tuổi 10 đến 30.
Theo Bộ Y tế, toàn bộ quy trình khám lâm sàng kéo dài khoảng 10 phút và có thể thực hiện tại trạm y tế xã, phường, đặc khu hoặc các cơ sở khám chữa bệnh ban đầu.
Cán bộ y tế chuyển cấp chuyên môn kỹ thuật phù hợp khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ như khối bất thường (khối có mật độ chắc, bờ không đều), thay đổi da/núm vú (dấu hiệu sần da cam…), tiết dịch núm vú, sờ thấy hạch nách...











