Hồn đất
VHXQ - Mẹ hạ sanh lão một chiều bên bến Cà Tang, rứa mà thoắt cái sáu mươi năm tròn lỏn. Cả tuổi thơ miệt mài vọc đất, nặn hình, lăn lóc rặng tre, bến nước.
Chắc kiếp trước nợ nần chi người Champa nên kiếp ni còn dan díu? Có lúc lão từng nghĩ chính thần Siva đã hóa thân thầy trò Đường Tăng giúp mình trong những ngày đầu khởi nghiệp cũng nên.
Lão yêu bến Cà Tang. Cái chỗ ngày xưa đội phân bò về ủ trồng bí, ở đó có cái Bún Kiểu tuổi thơ trốn mẹ lặn hụp tập bơi. Một ngày bom Mỹ dội xuống bên kia sông Thu, lão nhói lòng, nhận ra mình đã biết căm thù và yêu quê từ bận đó. Bến Cà Tang là máu thịt. Lão tự hào với thiên hạ đã lập nghiệp nơi đây, còn kiếm việc cho hàng chục con người.
Người Bàu Trúc chỉ cần cầm cục đất đem nung là có gốm Chăm. Lão làm đất nung Chăm không đơn giản, phải dành nhiều thời gian đi tìm ở các bảo tàng và phế tích, cẩn thận nhặt nhạnh những hoa văn đẹp, những mặt Kala giấu trong nền tháp và biến tấu, đem những tác phẩm của người Chăm xưa trên vách tháp xuống đời thường, gắn cho nó một số phận, một đời sống riêng rồi hòa vào cuộc đời, làm sống lại phần nào nền văn hóa lớn bị chôn lấp trong lớp bụi thời gian.
Càng tự hào về nền văn hóa Chăm trên quê hương, lão càng thấy trách nhiệm nhiều hơn của một người làm nghề. Lão luôn dặn lòng, mưu sinh phải gắn với gìn giữ văn hóa.
Từ lửa của trấu, của củi, của than đá, của gas, của điện, lão đã tìm ra cho mình một con đường riêng, một cái tên riêng, một lối nhỏ dành cho nhiều người biết yêu cái đẹp mộc mạc.
Trăm nghìn khó khăn, gian truân và tốn kém, cuộc chơi màu sắc trên đất không hóa chất, sự tung hứng của đất và lửa. Như một cuộc đối thoại âm thầm, những gam màu hỏa biến tự sinh, tự chuyển hóa rồi nằm lại ở một nhiệt độ nhất định. Màu sắc sinh ra là đứa con tinh thần của cuộc hôn phối vô tiền khoáng hậu, khoảnh khắc biến thiên theo duyên lành của đất trời.
Những chiếc lọ bằng đất sét dẻo mềm tung hứng trên đó những câu chuyện, những khuôn mặt, những chân dung và cá tính. Lão miệt mài, cô đơn trong công việc. Kiến thức góp nhặt mỗi ngày một ít, như tinh phù sa lắng thành đất sét, những thứ có được là sự trả giá quá đắt của một quá trình.
Lão nhìn ra bờ sông, nơi mấy rặng tre cong mình sát mặt nước, Thu Bồn mênh mang là thế đôi lúc lại vô tình. Trời cho được thì cũng lấy lại được thôi, lão luôn tự dặn lòng.
Lão cựa lưng khó nhọc, từng khớp cơ nóng ran, sưng tấy, có vẻ chúng đang muốn biểu tình, xương cổ cứng ngắc như thể bị trát xi măng. Nhớ bữa đi chụp chiếu, cậu bác sĩ trẻ nhìn lão ái ngại, vẹo cột sống, gù lưng, cong xương cổ, nguy cơ đột quỵ cao chú nghe!
Cái danh hiệu Nghệ nhân nhân dân của chú rát quá. Lão nghe đắng ngắt, tự an ủi, ở đời, làm gì có giá rẻ cho một sự lựa chọn, huống hồ, cái mộng của lão lớn quá!
Mà nói rứa cũng tội, thiệt ra lão có mộng chi to tát đâu, chỉ là tạo công ăn việc làm cho bà con lối xóm, nói chứ, tụi nó kiếm được miếng cơm trên chính mảnh đất quê cũng đáng tự hào mà, chưa kể, những thứ lão làm ra, là những báu vật quốc gia của người Chăm thu nhỏ, làm nên thương hiệu Đất nung xứ Quảng cho quê hương.
Dạo mắt quanh một vòng cái ụ mối quen thuộc, lão dừng lại nơi mớ đồ sành sứ, đó là kỷ vật từ lò chén của cha, cái lò sành sứ đầu tiên của Quảng Nam - Đà Nẵng những năm 1936.
Cha lão được phân công vào tận Lái Thiêu học hỏi, về làm nên lò chén Việt Quảng kiếm tiền cho Đảng hoạt động trong những ngày bí mật. Khi cha mất đi, một người bạn cũ vào thăm, hỏi mẹ, có đứa nào nối nghiệp anh không? Câu hỏi đã thay đổi mọi ý định, lão vứt đống hồ sơ đi Tây, mang cái túi mìn mo, hai ổ bánh mỳ lần đầu ra Huế tầm sư học đạo.
Chẳng ai hiểu hết nỗi gian nan của lão. Từ lúc còn là cậu trai chưa vợ, là thương binh may mắn trở về giữa bom đạn chiến trường Tây Nam, lão thấy biết trân quý từng hơi thở, từng nhịp đập. Sống như thể là ngày cuối được sống, làm như thể mai sẽ không còn được làm.
May mắn thừa hưởng dòng máu đam mê từ cha, lại được cha nuôi tận tâm chỉ bảo, lão lọ mọ học các thứ, làm việc quên giờ, những mẫu, những khuôn, hình thành từ thời sơ khai mãi đến bây giờ.
Nhưng chuyện cơm áo muôn đời có bao giờ đơn giản, những thất bại dập vùi, những tháng ngày chênh vênh khốn khó, lão không quên khoảnh khắc đất chảy thành nước trong lò, dập mọi nguồn sáng, trôi luôn bao hy vọng. Nhưng đó chưa phải là thứ nước ám ảnh tâm trí lão nhất, thứ nước gây nên những mất mát to lớn không đong đếm được, ấy là trận lụt lịch sử mà có thể mãi sau này sử sách vẫn lưu nhắc.
Trong bóng tối, không cần nhắc cho ai đó đây là cái bàn, kia là cái ghế, mà hãy thắp một ngọn đèn… cha đã dạy thế, và lão ghi nhớ.
Nên chi, khi cơn lũ qua đi, hàng ngàn khuôn mẫu, hàng hóa hư hỏng nặng, các lò ngập nước, xưởng gần như dừng hoạt động, bao nhiêu con người sống nương vào đấy cứ trắng mắt hoang mang, lão lại phải vực tinh thần mọi người, dù có lúc mệt muốn ngưng thở. Lão lặng lẽ chịu đựng, túc tắc làm lại từng phần.
Chiều nay, lũ chích chòe lại tụ tập, các hoạt động trải nghiệm luôn khiến bọn trẻ thích thú. Nhìn những đôi tay lấm lem vuốt ve mẫu đồ mình tạo ra, những đôi mắt biết cười, lão thấy mình của hơn năm mươi năm trước.
Cất cái bằng nghệ nhân nhận được trong một buổi chiều nhạt, lão bấm vài dòng tin gửi cậu nhà báo cho cuộc phỏng vấn, nhắn ai đó đừng quên bờ tre gốc rạ, dẫu dọc ngang bốn bể năm châu thì cũng cố tìm về xây dựng quê hương.











