Hồn nhiên và chân thực tận đáy – nét đặc trưng trong thơ Hà Đức Toàn

Đọc thơ Hà Đức Toàn - tôi và nhiều người khác bất giác đều có chung một nhận xét: Thơ như người vậy! Thật hồn nhiên và chân thực - chân thực tận đáy. Và chính điều đó đã tạo nên một nét đặc trưng riêng của nhà thơ mang đậm 'chất Thái' này - chất thơ như chất trà Tân Cương, trà La Bằng mộc chưa lấy hương: đậm, chát, ngọt và có hậu..

Đọc thơ Hà Đức Toàn - tôi và nhiều người khác bất giác đều có chung một nhận xét: Thơ như người vậy! Thật hồn nhiên và chân thực - chân thực tận đáy. Và chính điều đó đã tạo nên một nét đặc trưng riêng của nhà thơ mang đậm "chất Thái" này - chất thơ như chất trà Tân Cương, trà La Bằng mộc chưa lấy hương: đậm, chát, ngọt và có hậu.

Cố nhà thơ Hà Đức Toàn cùng tác giả bài viết PGS.TS, nhà thơ Trần Thị Việt Trung.

Cố nhà thơ Hà Đức Toàn cùng tác giả bài viết PGS.TS, nhà thơ Trần Thị Việt Trung.

Hà Đức Toàn đến với thơ một cách "tự nhiên nhi nhiên" - bởi một con người luôn sống hồn hậu, nhiệt thành và hết mình đến thế với tất cả: bạn bè, người thân, quê hương… và với chính mình trong từng niềm vui, nỗi buồn…, một con người chân thực cũng hết sức lãng mạn, dễ xúc động; một con người vừa sâu sắc vừa thơ ngây, cả tin… đến thế - thì làm sao lại không có thể có những vần thơ, bài thơ và tập thơ như vậy!

Từ năm 1961, Hà Đức Toàn đã có những bài thơ đoạt giải quốc gia (cuộc thi thơ "Thầy giáo và Nhà trường" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức), nhưng phải đến những năm 90 của thế kỷ XX - anh mới được nhiều người biết đến với tư cách là một nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên). Hay nói một cách khác: sự nghiệp sáng tác văn học của anh được bắt đầu muộn hơn tuổi tác nhưng bù lại anh được nhiều người biết đến, yêu quý bởi lòng nhiệt tình, sự hết mình của anh đối với sự nghiệp văn chương của tỉnh Thái Nguyên nói riêng, của khu vực miền núi phía Bắc nói chung trong suốt mấy chục năm qua.

Thơ Hà Đức Toàn từ những bài thơ đầu tiên (1961) cho tới nay - nếu xét về mặt hình thức nghệ thuật thì không mới, và hình như anh không hề có ý định chạy theo sự đổi mới về mặt thi pháp. Vì thế, nếu là một người đọc chỉ quan tâm đến việc tìm ra cái mới lạ, độc đáo về chữ nghĩa, ngôn từ, kết cấu, hình tượng… thì rất có thể sẽ không thấy vấn đề gì để bàn nhiều về thơ anh! Nhưng nếu đọc để thẩm thấu, để giao cảm với một tâm hồn, một trái tim đầy ắp yêu thương và sự cảm thông trước bao nhiêu số phận, bao hoàn cảnh của con người trong xã hội; để hiểu những suy nghĩ, những ước mơ, khao khát rất đời, rất người… một cách thành thực, trong trẻo và đáng yêu của tác giả - thì người đọc lại như tìm thấy một sự tri âm! Thơ Hà Đức Toàn là như vậy!

Vấn đề được nhà thơ Hà Đức Toàn quan tâm và cứ trở đi trở lại trong các bài thơ của anh - đó là hình tượng người phụ nữ miền núi với bao cảnh ngộ, số phận khác nhau - đã được nhà thơ khắc họa một cách chân thực và cảm động trong các bài thơ của mình. Chỉ riêng điều này cũng đã đủ nói lên: Hà Đức Toàn là nhà thơ đa tình, đa cảm và giàu lòng trắc ẩn. Nhưng đây cũng không phải là một nét đặc điểm riêng trong thơ anh (bởi nhà thơ nam nào chẳng viết về phụ nữ như thế) - nếu như không nhấn mạnh thêm một nét đặc trưng trong phong cách thể hiện của anh - đó là: sự hồn nhiên, chân thực tới đáy của một nhà thơ vùng quê miền núi Đại Từ - Thái Nguyên này!

Xin đưa một số ví dụ để minh chứng cho sự hồn nhiên chân thực đó của nhà thơ:

Khi viết về bi kịch Thị Kính - Thị Màu (Với bà Thị Kính), bên cạnh những câu thơ đầy cảm thông, sự xót xa cho thân phận của người phụ nữ xưa, tác giả có những câu thơ đã khiến cho người đọc khó quên bởi sự hồn nhiên, sự rất thật thà của người viết:

Mắt phượng, mi tằm, cổ kiêu ba ngấn

Biết đâu còn vương vấn một hồn thơ

Nhan sắc sinh ra đâu phải để thờ…

Hoặc bài thơ Gửi chồng bà huyện Thanh Quan - một bài thơ với những cảm xúc thật đẹp, thật sang trọng và đầy ngưỡng mộ nhân vật người phụ nữ tài hoa xưa là Bà huyện Thanh Quan - nhưng lại được thông qua lời tâm sự của một ông huyện nay gửi tới một ông huyện xưa với khoảng cách là 200 năm. Giọng điệu thơ ở đây có sự đan xen phức tạp nhưng vẫn đầy trong trẻo, hồn nhiên - kể cả sự ghen tỵ vô lí của ông huyện nay với ông huyện xưa:

Hai trăm năm sau tôi cũng là ông huyện

(Dù không là huyện Thanh Quan)

Tôi cũng có người tình, có bạn thơ, có vợ

Nhưng thua ông - tôi không thể có nàng

Cả nhân loại bây giờ ai được như ông

Nếu là tôi?

- Tôi mãn nguyện kiếp làm chồng!

Hay trong một loạt bài thơ khác của ông viết về cảnh ngộ, những bi kịch tình yêu, gia đình, những nỗi khát khao giới tính thầm kín đáng được cảm thông, trân trọng của biết bao người phụ nữ hôm nay như: Tết của một người cô đơn, Chợ chè đen, Với người đứng tuổi, Nếu mà lần ấy, Xóm ba nhà không có đàn ông, Bao giờ, Bâng quơ… Người đọc rất dễ phát hiện ra những câu thơ rất hồn nhiên, rất mộc mạc và thành thật đến vô cùng của tác giả. Điều đó khiến cho người đọc vừa có thái độ cảm thông, chia sẻ với người phụ nữ trong thơ anh, vừa có cái mỉm cười cảm thông với chính nỗi xúc động, những suy nghĩ thầm kín của nhà thơ! Những câu thơ cứ như ngân nga trong lòng người đọc:

Biết là người đã về hưu

Biết là người vẫn chưa yêu bao giờ

Biết người thăm thẳm đợi chờ

Ước thầm nhớ vụng để giờ… về hưu

Ai cũng có thể viết những câu như thế cho người phụ nữ nhan sắc, có tuổi nhưng lại chưa một lần được yêu! Nhưng ít người có thể viết một câu "thật như đếm" giống nhà thơ "chân quê" xứ chè này:

… Nhưng giờ đâu nữa là tôi

Nhắc chi cái thuở đất trời cho yêu”

(Với người đứng tuổi)

Hay:

- "Nếu anh liều nắm chặt tay em

Và áp một nụ hôn nồng cháy

Thì có thể từ cái lần ấy

Em sẽ không thành cô đơn

… Khoảnh khắc ấy - một đời không có nữa

(Nếu mà lần ấy)

Và: cách nói dí dỏm, hơi có phần "chả chớt" của nhà thơ cũng cứ thật thà quá thế nào ấy – khiến người đọc cứ phải tủm tỉm cười:

- Chợ chè đen gặp ai cũng quen quen

Phiên Chủ nhật chỉ toàn dân nhà máy

Chẳng dám nghĩ (dù hình như có thật)

Đứa trẻ nào phía trước bước hao hao?

Hỡi nương chè, nỡ chẳng nhớ nhau sao?

(Chợ Chè Đen)

Trong thơ Hà Đức Toàn - chủ đề tình yêu cũng luôn là được tác giả đặc biệt chú ý. Tuy nhiên tình yêu trong thơ Hà Đức Toàn có một màu riêng biệt. Đó là thứ tình yêu của người đứng tuổi. Thứ tình yêu khá cổ kính, luôn ép mình vào trong khuôn khổ, nhưng cũng có lúc bùng cháy và phát sáng bất ngờ. Thứ tình yêu ấy trong thơ anh luôn được thể hiện rất thành thật (thực đến thế là cùng!), điều không phải ai cũng dám thể hiện trong những năm tháng - mà quan niệm về tình yêu, về gia đình chưa thực thật cởi mở và hiện đại như hôm nay. Chúng ta có thể tìm được khá nhiều câu thơ chứa đầy tâm cảm của anh như các tập thơ: Đêm trăng nhà sàn, Sao đôi xa xăm, Thuở cho yêu, Ly rượu mắt mình… như:

- Hai trái tim nát nhàu/ Phập phồng hơi thở nghẹn/ Ta mải thờ trọn vẹn/ Để lỡ làng mất nhau (Lưu đày)

- Bởi rụt rè anh nấn ná bấy lâu/ Rồi đột ngột anh đi và… vĩnh viễn/ Đầu bạc rồi đâu chuyện cũ/ Chỉ trách chúng mình ngày ấy ngây thơ (Bâng quơ)

- Một nỗi buồn chợt đến lúc nửa đêm/ Bảng lảng trời chiều cặp mắt đen/ Rạo rực tim mình: Bàn tay ấm/ Nồng nàn: môi em!/ …/ Thì ra vơ vẩn buồn mơ ước/ Cái thực não nùng: một mình tôi"(Một nỗi buồn)

- Nhưng kìa đôi mắt chân chim/ Trời ơi tuổi tác đã tìm đến ta/…/ Cho cam một kiếp nắng mưa/ Yêu chưa đã cái già nua đến rồi! (Ly rượu mắt mình)

- Hình như mắt người rớm lệ/ Giấu chồng nhìn trộm như say/ Môi hồng một thời thắm lại/ Ba đồng một mớ trầu cay… (Rượu tết)

Bất chợt gặp nhau, gặp lại thời yêu đương/ Thời đánh gốc, sương ngàn phủ nắng/ Ta trẻ quá mà núi rừng lại vắng/ Chuyện bây giờ nào ai biết trách ai (Chợ Chè Đen)

- Từ ánh mắt nụ cười dông bão/ Nhấp một lần để một kiếp chơi vơi/ (Đêm Lạng Sơn)

Nhưng có lẽ chủ đề chiếm nhiều trang thơ nhất và cũng thể hiện tấm lòng, tình cảm và tư tưởng nghệ thuật của nhà thơ nhất - đó là những bài thơ, những vần thơ viết về miền quê dưới chân Tam Đảo. Tuy không phải là người dân tộc thiểu số, nhưng được sinh ra, lớn lên và gắn bó máu thịt với vùng quê miền núi, nơi có những nương chè xanh bát ngát, có những ngọn núi cao vút với những thác nước trắng xóa; nơi gắn liền với bao kỳ tích và huyền tích của dân tộc - nên Hà Đức Toàn có khá nhiều bài thơ hay, xúc động và đầy tâm huyết về mảnh đất Đại Từ - Thái Nguyên yêu dấu! Có thể nói: anh đã dành trọn vẹn trái tim và lòng tự hào của mình cho mảnh đất giàu bản sắc và đầy kỳ tích, huyền tích lịch sử này.

Trong thơ anh, quê hương miền núi dưới chân Tam Đảo luôn hiện lên với một vẻ đẹp hoang sơ, nhưng ấm áp tình người và luôn gắn với những kỷ niệm không thể nào quên của một con người nặng lòng với xóm làng, với màu xanh của núi non, màu xanh của huyền thoại:

- Những đợt xanh như sóng lô xô

Viền xanh lam dưới chân Tam Đảo sẫm

Chè đang lên, lá non mềm, búp mập

Lấp lánh xanh, xanh cả ánh nắng mai

Xóm núi mờ xanh, xanh xanh cây trái

Mái lá ban mai chiều thoang thoảng khói lam xanh

(Màu xanh quê hương)

- Màu huyền thoại trong xanh như mắt em

Nhuộm xanh trời chiều, nhuộm xanh cánh chim

Nhuộm xanh mái chèo, nhuộm xanh sông nước

Cả ngọn Đợi Chờ sương giăng xanh ngắt

Và em chờ nỗi nhớ cũng màu xanh

(Chờ anh ở núi Đợi Chờ)

- Cứ tưởng em là cuối núi

Mơ màng buổi sớm dải mây vương

Cứ tưởng anh là chim khảm khắc

Suốt đêm chầy ôm nỗi nhớ… đơn phương

(Bâng quơ)

- Chuyện trên sàn thủ thỉ trong đêm

Ngoài núi đẫm ánh trăng vàng lồng lộng…

(Đêm trăng nhà sàn)

Quê hương ấy không chỉ đẹp và ấm áp tình người mà còn là niềm tự hào bởi truyền thống yêu nước, bởi những con người đã từng làm rạng danh lịch sử dân tộc, bởi những huyền tích đã được lưu giữ đến hôm nay. Hình ảnh những con người anh hùng dân tộc như Lưu Nhân Chú, Dương Tự Minh, hình ảnh của nàng công chúa Triều Lý - Thiều Dung rời bỏ "lầu son trướng gấm" nơi kinh kỳ "theo chồng về nơi xa vắng"; và không khí các buổi chiều tập trận xưa của nghĩa quân trên núi Quần Ngựa với "quân reo, ngựa hý/ chiêng trống vang lừng, cờ xí tung bay" bên cạnh núi Văn với chiếc mũ "cánh chuồn hóa đá" niềm kiêu hãnh của quê hương, biểu tượng vàng son của ngàn năm văn vật", núi Võ với chiếc mũ trụ sừng sững nơi đây… đã tạo nên một chất giọng vừa lãng mạn vừa hào hùng trong thơ anh. Bên cạnh đó, những hình ảnh về một quê hương miền núi đang ngày đêm say sưa lao động, vượt lên nghèo đói, khó khăn để trở thành một vùng quê trù phú với những nương chè xanh ngát, những đồng lúa vàng ươm, những đồi cọ xòe ô che mát đường quê; hình ảnh những chiếc cầu cho những người công nhân bắc qua con suối hung dữ mùa lũ năm xưa để: "Xe nối xe rầm rập ngày đêm/ Nhịp sống công trường bừng bừng tới tấp"; hình ảnh làng quê heo hút mờ xa dưới chân ba ngọn núi (Tam Đảo) đã hoàn toàn thay da đổi thịt, tràn đầy sức sống:

- "Cái mới chuyển mình trong tên mới thân quen

Ống khói vươn cao, còi tầm náo nức”

(Nhịp cầu công nhân)

Và đậm hương thơm của lúa, của chè, của hoa trái nơi núi non xanh biếc và những âm thanh náo nức từ những mái trường trên Gò Gió thân thương:

- "Gió đưa xa ngan ngát mái trường

Một giọng ca xuân, một tiếng ru hời

Văng vẳng còi tầm, pháo nổ chơi vơi

Gió cũng vọng về bên cửa sổ

Cho những mái trường náo nức vui”

(Hương xuân Gò Gió)

Có thể thấy rõ sự gắn bó sâu sắc, máu thịt, chân thành, và cảm động của nhà thơ đối với mảnh đất miền núi thân yêu này. Và cũng chính "vùng thẩm mỹ" ấy góp phần đáng kể trong việc phác họa chân dung khá đầy đủ và sinh động về nhà thơ xứ Thái - Hà Đức Toàn.

Thơ anh như vậy, hồn nhiên và trong trẻo, chân thực và nhiệt thành! Điều đáng ghi nhận và trân trọng ở anh có lẽ cũng chính từ nét đặc trưng ấy! Hay nói như nhà văn Nguyễn Bình Phương thì:"Chất vàng ròng ánh lên sau những trang viết của Hà Đức Toàn là cái cảm giác cuộc đời này rất đáng sống, bởi lòng tốt còn hiện diện ở nhiều nơi… ở tình người trong những vần thơ, ở những số phận có hậu và cái chất giọng tràn đầy nhân ái của người viết". Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét đó, và muốn nhấn mạnh thêm một điều: Sự hồn nhiên, trong trẻo, sự chân thành tới tận đáy trong từng trang viết của anh đã góp phần quan trọng tạo nên chất vàng ròng ấy trong sự nghiệp sáng tác của tác giả đáng trân trọng này!

Nhà thơ Hà Đức Toàn (1938-2024)

Nhà thơ Hà Đức Toàn (1938-2024)

Quê quán: Xã Quân Chu, tỉnh Thái Nguyên

Nguyên Chủ tịch Hội VHNT Bắc Thái, Tổng Biên tập Báo Văn nghệ Bắc Thái

Huân chương Lao động hạng Ba

Huân chương Kháng chiến hạng Nhì

Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng

Các tác phẩm chính

Thơ

Đêm trăng nhà sàn (1998)

Sao đôi xa xăm (In chung với Vân Trung - 1999)

Thuở cho yêu (1991)

Thảo nguyên say (In chung với Nguyễn Hữu Bài - 1997)

Ly rượu mắt mình (1996)

Văn xuôi

Ngôi nhà của thượng úy về hưu ( Kí - 1990)

Núi Văn - núi Võ (Giới thiệu danh nhân 1992)

Nửa kiếp người (Truyện vừa 1993)

Bộ ba ngược đời (Truyện và ký - 1993)

Có một bản Tèn... (Kí in chung với Ba Luận - 1994)

Độc thân (Truyện ngắn - 1998)

Mảnh đất chiến khu xưa (Kí - 1995)

Ba ông đầu rau (Tiểu thuyết - 1998)

Tiếng hổ gầm (Tiểu thuyết - 1999)

Vệ út (Tiểu thuyết - 2002)

Lũng Mây (Truyện ngắn - 2002)

Hương Rừng (Truyện ngắn - 2006)

Tuyển tập Hà Đức Toàn (2007)

Giải thưởng văn học

Giải Ba cuộc thi thơ Thầy giáo và nhà trường của Bộ GD - ĐT năm 1961.

Giải Nhì về tiểu thuyết, Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Tặng thưởng Cuộc vận động sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân năm 2000.

Giải Nhì (không có giải Nhất) về văn xuôi, giải Ba thơ 1992, giải Nhì văn xuôi 1997 (Giải thưởng 5 năm tỉnh Bắc Thái), Giải Nhì văn xuôi năm 2002 (Giải thưởng 5 năm tỉnh Thái Nguyên).

Giải Ba, giải Khuyến Khích về truyện ngắn của Hội VHNT các DTTS Việt Nam.

Trần Thị Việt Trung

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/van-nghe-thai-nguyen/202607/hon-nhien-va-chan-thuc-tan-day-net-dac-trung-trong-tho-ha-duc-toan-dc52536/