Hợp tác năng lượng Việt Nam - Liên bang Nga: 'Đòn bẩy' từ nền tảng dầu khí

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Liên bang Nga Mikhail Mishustin, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính sẽ dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Liên bang Nga từ ngày 22-25/3. Trong bối cảnh quan hệ hai nước tiếp tục được củng cố, hợp tác năng lượng, đặc biệt là dầu khí vẫn được xem là một trong những trụ cột quan trọng và hiệu quả nhất.

TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, nguyên Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam: Hợp tác dầu khí Việt Nam - Liên bang Nga không chỉ là hợp tác kinh tế đơn thuần mà mang ý nghĩa chiến lược đa tầng

TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, nguyên Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam: Hợp tác dầu khí Việt Nam - Liên bang Nga không chỉ là hợp tác kinh tế đơn thuần mà mang ý nghĩa chiến lược đa tầng

Trao đổi với phóng viên Báo điện tử Chính phủ, TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, nguyên Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam cho rằng nền tảng hợp tác lâu năm, tiêu biểu như liên doanh Vietsovpetro, không chỉ đóng góp lớn cho sự hình thành và phát triển của ngành dầu khí Việt Nam mà còn mở ra nhiều dư địa hợp tác mới trong lĩnh vực LNG, điện khí và các nguồn năng lượng tương lai.

Hợp tác dầu khí được xem là một trong những lĩnh vực sớm và hiệu quả nhất trong quan hệ giữa Việt Nam và Nga. Từ góc nhìn của một người nhiều năm gắn bó với ngành dầu khí, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa chiến lược của sự hợp tác này đối với sự phát triển của ngành năng lượng Việt Nam?

TS. Nguyễn Quốc Thập: Có thể nói hợp tác dầu khí Việt Nam - Liên bang Nga không chỉ là hợp tác kinh tế đơn thuần mà mang ý nghĩa chiến lược đa tầng, đặc biệt trong bối cảnh địa chính trị và chuyển dịch năng lượng như hiện nay, thể hiện ở 5 khía cạnh chiến lược cốt lõi.

Thứ nhất là trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn. Hợp tác với Nga giúp Việt Nam duy trì và gia tăng sản lượng khai thác dầu khí ở trong nước, tiếp tục phát triển các mỏ dầu khí ở ngoài khơi, tận dụng công nghệ khai thác ở điều kiện địa chất phức tạp. Đây là những yếu tố quan trọng để giảm phụ thuộc nhập khẩu năng lượng.

Thứ hai là việc chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm khai thác dầu khí ngoài khơi. Nga là quốc gia có thế mạnh trong thăm dò, khai thác dầu khí, công nghệ khoan khai thác phức tạp, vận hành các mỏ dầu khí lớn. Thông qua các liên doanh như Vietsovpetro, Việt Nam đã tích lũy được năng lực kỹ thuật đáng kể, hình thành đội ngũ kỹ sư dầu khí trình độ cao. Đây là di sản chiến lược rất lớn của ngành dầu khí Việt Nam.

Thứ ba là nền tảng phát triển chuỗi khí, điện khí, LNG. Trong giai đoạn tới, hợp tác Việt - Nga có thể mở rộng sang tiếp tục khai thác khí, phát triển các dự án LNG, phát triển các dự án điện khí vì Nga có lợi thế nguồn cung khí rất lớn, kinh nghiệm phát triển chuỗi LNG. Nếu tận dụng tốt, đây có thể là đối tác chiến lược trong phát triển chuỗi LNG của Việt Nam.

Thứ tư là đa dạng hóa đối tác và cân bằng chiến lược năng lượng. Trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, hợp tác với Nga giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác năng lượng, không phụ thuộc vào một thị trường hoặc một khu vực, tăng tính tự chủ chiến lược. Đây là yếu tố rất quan trọng với an ninh năng lượng, an ninh kinh tế của Việt Nam.

Thứ năm là nền tảng hợp tác năng lượng mới trong tương lai. Ngoài dầu khí truyền thống, hợp tác Việt - Nga có thể mở rộng sang năng lượng hạt nhân, hydrogen, năng lượng mới, công nghệ lưu trữ năng lượng, từ đó mở ra không gian hợp tác trong những giai đoạn chuyển dịch năng lượng.

Như ông vừa đề cập, các liên doanh như Vietsovpetro đã trở thành biểu tượng của hợp tác dầu khí Việt - Nga. Theo ông, mô hình hợp tác này đã mang lại những giá trị và kinh nghiệm gì cho quá trình xây dựng và phát triển ngành dầu khí Việt Nam?

TS. Nguyễn Quốc Thập: Vietsovpetro thực sự là mô hình hợp tác điển hình và có tính trường học đối với toàn bộ ngành dầu khí Việt Nam. Từ mô hình hợp tác này, chúng ta đã hình thành được năng lực khai thác dầu khí ngoài khơi từ con số gần như bằng 0. Giá trị mà liên doanh mang lại là Việt Nam từ chỗ chưa có kinh nghiệm khai thác ngoài khơi tiến tới làm chủ các mỏ dầu khí lớn như mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng.

Cùng với đó, chúng ta đã xây dựng được chuỗi hoạt động khá hoàn chỉnh từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác, thu gom, vận chuyển dầu khí và xuất bán. Bài học ở đây là hợp tác đúng đối tác thì chúng ta có thể rút ngắn hàng chục năm phát triển ngành.

Theo tôi, đây là mô hình liên doanh chia sẻ rủi ro, chia sẻ lợi ích rất hiệu quả và giá trị mà liên doanh này mang lại là sự phối hợp hợp lý giữa vốn đầu tư, công nghệ, quản trị, tạo động lực cho cả hai phía cùng tối ưu hiệu quả hoạt động.

Đây cũng là mô hình chuyển giao công nghệ thực chất, không hình thức. Đội ngũ kỹ sư Việt Nam được đào tạo trực tiếp tại công trường và công trình, tham gia vận hành khai thác, sử dụng hạ tầng kỹ thuật phức tạp ở ngoài khơi. Tiếp theo đó là làm chủ dần các công nghệ khoan khai thác dầu khí, xử lý dầu khí, thu gom, vận chuyển, thiết kế, chế tạo, xây lắp công trình trên đất liền và ngoài khơi. Từ mô hình này đã hình thành thế hệ kỹ sư dầu khí có tay nghề cao, có kinh nghiệm quốc tế và họ đã trở thành lực lượng nòng cốt của Petrovietnam và toàn ngành.

Ngoài ra, trong nhiều năm Vietsovpetro là nguồn thu ngân sách lớn, là trụ cột kinh tế của ngành dầu khí Việt Nam, tạo cơ sở để xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến hoạt động dầu khí và đồng thời có các cơ hội phát triển các mô hình hợp đồng chia sản phẩm sau này.

Từ mô hình hợp tác Vietsovpetro, chúng ta đã hình thành được năng lực khai thác dầu khí ngoài khơi từ con số gần như bằng 0

Từ mô hình hợp tác Vietsovpetro, chúng ta đã hình thành được năng lực khai thác dầu khí ngoài khơi từ con số gần như bằng 0

Tiềm năng hợp tác Việt - Nga theo hướng đa tầng và thực chất hơn

Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ, đặc biệt là xu hướng chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải, ông nhìn nhận như thế nào về tiềm năng mở rộng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Nga trong thời gian tới?

TS. Nguyễn Quốc Thập: Tôi cho rằng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Liên bang Nga tiếp tục có tiềm năng mở rộng theo hướng đa tầng và thực chất hơn.

Bên cạnh việc duy trì dầu khí truyền thống như một trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng thì hai nước có nhiều dư địa hợp tác trong phát triển chuỗi khí và LNG, đặc biệt là trong lĩnh vực cung ứng LNG dài hạn, phát triển hạ tầng kho cảng và các dự án điện khí. Đồng thời, hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân và các công nghệ năng lượng mới như hydrogen, lưu trữ năng lượng và giảm phát thải cũng mở ra triển vọng nâng tầm quan hệ năng lượng song phương trong dài hạn.

Tuy nhiên, để các tiềm năng này được hiện thực hóa, cần có cơ chế hợp tác linh hoạt, phù hợp với đặc thù thị trường năng lượng, đồng thời bảo đảm tính khả thi tài chính và khả năng thích ứng với các yếu tố địa chính trị và thị trường quốc tế. Việc kết hợp giữa nền tảng hợp tác truyền thống và định hướng chuyển dịch năng lượng sẽ là chìa khóa để quan hệ năng lượng Việt Nam - Liên bang Nga tiếp tục phát huy vai trò chiến lược trong giai đoạn tới.

Ông có khuyến nghị gì để tiếp tục phát huy hiệu quả hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Nga, qua đó góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững cho Việt Nam?

TS. Nguyễn Quốc Thập: Chúng tôi có 5 khuyến nghị nhằm tiếp tục phát huy hiệu quả hợp tác năng lượng Việt Nam - Liên bang Nga, qua đó đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ cho chuyển dịch thành công.

Đầu tiên, cần nâng cấp khuôn khổ hợp tác hai bên lên mức đối tác năng lượng toàn diện. Mở rộng từ dầu khí truyền thống sang khí LNG, điện khí, điện hạt nhân, năng lượng mới. Cần thiết lập một cơ chế điều phối cấp chính phủ, đó là Tổ công tác ủy ban liên chính phủ về năng lượng để tháo gỡ nhanh các dự án lớn xuyên suốt từ thượng nguồn đến tiêu thụ.

Thứ hai, phát triển các dự án LNG tích hợp gắn với đầu ra điện khí. Đó là ưu tiên mô hình LNG kho cảng, tái hóa khí, điện khí, khách hàng công nghiệp theo cụm, gắn hợp đồng LNG dài hạn với hợp đồng mua bán điện, có cơ chế chia sẻ rủi ro về giá và sản lượng. Khuyến khích liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam (PVN, PV GAS) với các đối tác Nga để đồng đầu tư, đồng vận hành các khâu then chốt.

Thứ ba, thiết kế cơ chế tài chính, thương mại linh hoạt, thích ứng với bối cảnh địa chính trị. Đó là đa dạng hóa phương thức thanh toán, bảo hiểm, vận tải, nghiên cứu cơ chế tài chính phù hợp để giảm rủi ro bên ngoài; cho phép các cấu trúc hợp đồng linh hoạt để tăng tính khả thi khi ra quyết định đầu tư cuối cùng cho dự án.

Thứ tư, kế thừa bài học Vietsovpetro, gắn đầu tư với chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Yêu cầu rõ lộ trình chuyển giao công nghệ LNG, vận hành kho cảng, quản trị chuỗi cung ứng. Thiết lập chương trình đào tạo nhân lực chung như kỹ sư LNG, vận hành hệ thống, quản trị rủi ro thị trường, hình thành các trung tâm nghiên cứu và phát triển hợp tác về LNG, an toàn môi trường, tối ưu vận hành.

Thứ năm, mở rộng hợp tác sang năng lượng nền và năng lượng mới một cách có chọn lọc. Đẩy nhanh các khuôn khổ hợp tác điện hạt nhân như một nguồn điện nền phát thải thấp. Thí điểm hợp tác hydrogen xanh và xanh lam, ammonia, chôn lấp CO2 tại các khu công nghiệp và điện khí hiện hữu. Tận dụng kinh nghiệm của Nga về kỹ thuật biển để khảo sát thiết kế điện gió ngoài khơi gắn với hạ tầng khí hiện có.

Xin trân trọng cám ơn ông!

Theo Báo điện tử Chính phủ

baochinhphu.vn

Nguồn PetroTimes: https://petrovietnam.petrotimes.vn/hop-tac-nang-luong-viet-nam-lien-bang-nga-don-bay-tu-nen-tang-dau-khi-738991.html