Hua Tạt phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với bảo vệ rừng
Từ sản xuất dựa chủ yếu vào kinh nghiệm, người dân bản Hua Tạt, xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La đang từng bước chuyển sang nông nghiệp sinh thái, đa dạng cây trồng, giảm sử dụng hóa chất và nâng cao giá trị nông sản. Cùng với phát triển kinh tế từ vườn cây ăn quả, người dân nơi đây còn gắn sinh kế với bảo vệ rừng, phát triển du lịch cộng đồng và duy trì nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng.

Vợ chồng ông Tráng A Cao trong vườn nông nghiệp sinh thái. Ảnh: Chu Khôi.
Trong chuyến điền dã về nông nghiệp sinh thái tại tỉnh Sơn La do Liên minh Học tập Nông nghiệp Sinh thái Đông Nam Á (ALiSEA) tổ chức, chúng tôi được chiêm ngưỡng những vườn bơ, hồng, chanh leo... sai trĩu quả ở bản Hua Tạt. Tại đây, Hợp tác xã nông nghiệp A Cao được thành lập năm 2018 với 7 thành viên là người Mông, xuất phát từ nhu cầu liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản.
TỪ NHỮNG THỬ NGHIỆM THẤT BẠI
Ông Tráng A Cao, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng bản Hua Tạt, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp A Cao, cho biết bình quân mỗi năm Hợp tác xã cung ứng khoảng 50 tấn bắp cải, 50 tấn đậu cove, 20 tấn hồng giòn, 10 tấn cà chua, 20 tấn cam Vinh, 10 tấn bưởi, 10 tấn cam Canh, 30 tấn quýt đường, 30 tấn lê và 6 tấn dâu tây. Các sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và tiêu chuẩn hữu cơ.
Trước đây, gia đình ông Cao có khoảng 6 ha trồng ngô và lúa. Mỗi năm chỉ sản xuất một vụ, trong khi chi phí nhân công, phân bón cao nên lợi nhuận thấp. Rau cũng thường rơi vào tình trạng được mùa thì khó bán. Vì vậy, cây ăn quả được lựa chọn để thay đổi phương thức sản xuất.

Tráng A Cao bên cây bơ Booth. Ảnh: Chu Khôi.
Con đường chuyển đổi sản xuất ở đây không phải lúc nào cũng thuận lợi. Ông Cao cho hay gia đình từng trồng 2.000 cây chanh chua. Năm đầu thu khoảng 1 tấn, năm thứ hai đạt 6-7 tấn nhưng giá chỉ khoảng 2.000 đồng/kg, không có người mua nên phải phá bỏ. Sau đó, gia đình trồng khoảng 1.000 cây bưởi nhưng 5-6 năm sau cũng phải chặt bỏ vì cây không phù hợp khí hậu, quả chua, giá bán thấp.
Từ những thất bại đó, gia đình ông và Hợp tác xã chuyển dần sang các loại cây phù hợp hơn như lê, cam Canh, quýt đường, bơ và hồng. Hiện nay, gia đình ông có khoảng 400 cây bơ, trong đó đang ghép giống bơ 034 và Booth. Năm nay sản lượng bơ khoảng 1 tấn và dự kiến tiếp tục tăng trong những năm tới.
Ông Cao cho biết từ 4 năm nay, thông qua dự án của ALiSEA, ông được tập huấn thường xuyên hơn về kỹ thuật sản xuất, ủ phân, sử dụng chế phẩm sinh học và kết nối thị trường. Điều ông đánh giá cao là các Hợp tác xã không chỉ được chuyên gia hướng dẫn mà còn có cơ hội trao đổi kinh nghiệm với nhau, từ đó điều chỉnh phương thức sản xuất phù hợp.

Ông Tráng A Cao chia sẻ cùng các nhà báo. Ảnh: Chu Khôi.
ALiSEA cũng đưa các hợp tác xã xuống Hà Nội giới thiệu, trưng bày sản phẩm và kết nối với siêu thị, cửa hàng rau củ quả sạch. Nhờ đó, một số sản phẩm trước đây khó tiêu thụ đã có thêm thị trường.
Quýt đường là một ví dụ. Trước đây, do người tiêu dùng chưa biết rõ về giống quýt này nên sản phẩm từng khó bán, thậm chí bị nhầm với cam. Tuy nhiên, sau khi được giới thiệu và dùng thử, khách hàng bắt đầu quay lại mua. Có thời điểm vườn cho 20-30 tấn quýt, Hợp tác xã bán hết trong khoảng một tháng rưỡi.
Sản xuất theo hướng sinh thái đòi hỏi nhiều lao động hơn. Nếu sử dụng thuốc trừ cỏ, mỗi năm chỉ cần phun 2-3 lần, còn sản xuất hữu cơ phải phát cỏ khoảng 10 lần. Từ khi chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, thu nhập gia đình đạt khoảng 500-600 triệu đồng/năm".
Ông Tráng A Cao Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp A Cao

Quá trình chuyển đổi cũng làm thay đổi cách sử dụng vật tư đầu vào. Trước đây, gia đình chủ yếu sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Mỗi lần phun có thể sử dụng khoảng 2.000 lít nước, riêng một loại thuốc mất khoảng 3 triệu đồng; tính cả dinh dưỡng và thuốc phòng bệnh có thể lên tới 4-5 triệu đồng/lần.
Khi chuyển sang hướng hữu cơ, gia đình sử dụng chế phẩm sinh học, tự ủ một số loại phân và áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt để đưa phân lỏng như đạm cá trực tiếp vào vườn. Một gói chế phẩm khoảng 200.000 đồng, sau khi nhân sinh khối có thể tạo ra khoảng 5 lít dung dịch để sử dụng. Việc tự ủ phân và nhân sinh khối giúp giảm được chi phí vật tư đầu vào so với trước đây.
ĐA DẠNG HÓA SINH KẾ VÀ GIỮ RỪNG
Theo ông Cao, nông nghiệp sinh thái khác với sản xuất hữu cơ ở chỗ không chỉ tập trung vào một loại cây mà hướng đến sự đa dạng, kết hợp nhiều loại cây trồng, gắn với rừng và các hoạt động sinh kế khác. Những diện tích cây chưa cho quả có thể trồng xen rau, ngô hoặc lúa để tạo thêm thu nhập.

Ông Tráng A Cao trong vườn cam. Ảnh: Chu Khôi.
Mô hình này có thể giúp người dân từng bước thay đổi tập quán sản xuất, nhưng cần thời gian. Một số hộ vẫn quen sử dụng thuốc trừ cỏ vì cho rằng nhanh và giảm công lao động. Trong khi đó, nông nghiệp sinh thái đòi hỏi phải thay đổi cách nghĩ, cách làm và cần có mô hình thực tế để người dân trực tiếp thấy hiệu quả.
Đời sống của người dân Hua Tạt cũng có nhiều thay đổi. Giai đoạn 2014-2015, bản có hơn 70 hộ nghèo, đến thời điểm này chỉ còn 2 hộ. Người dân thoát nghèo nhờ trồng cây, sản xuất nông nghiệp và đi làm thuê. Tuy nhiên, một bộ phận lao động trẻ không còn muốn gắn bó với nông nghiệp do đầu ra bấp bênh, giá nông sản thấp trong khi chi phí đầu tư cao".
Ông Tráng A Cao Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp A Cao.

Một khó khăn khác là nước và điện. Gia đình ông đã đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt, nhưng nhiều hộ chưa có nguồn nước, điện ổn định. Có nơi phải khoan giếng sâu 40-50 m, thậm chí 70-80 m nhưng vẫn không có nước. Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4 là thời điểm thiếu nước nghiêm trọng.

Ông Tráng A Cao và một số xã viên trong Hợp tác xã. Ảnh: Chu Khôi.
Tại bản Hua Tạt, sản xuất nông nghiệp đang được đặt trong mối quan hệ với bảo vệ rừng và phát triển du lịch cộng đồng. Ông Cao cho biết bản Hua Tạt có 165 hộ, người dân chủ yếu là đồng bào Mông và sống bằng nông nghiệp. Hiện nay, khoảng 366 ha rừng của bản được giao cho các nhóm hộ quản lý, bảo vệ. Người dân được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo diện tích, mỗi năm một lần. Những năm gần đây, tình trạng khai thác gỗ, săn bắt trong rừng giảm đáng kể nhờ công tác tuyên truyền và lực lượng kiểm lâm thường xuyên tuần tra.
Theo ông Cao, người dân ngày càng nhận thức rõ hơn trách nhiệm bảo vệ rừng. Việc giao rừng cho nhóm hộ quản lý vừa tạo trách nhiệm, vừa giúp người dân có thêm nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng. Rừng cũng bắt đầu tạo ra giá trị thông qua du lịch cộng đồng khi du khách từ Hà Nội và các địa phương đến trải nghiệm, ăn uống và nghỉ tại các hộ dân homestay nơi đây.

