Hưng Yên giải bài toán lớn mô hình khu kinh tế tự do
Khu kinh tế tự do vừa mở rộng không gian thu hút đầu tư quốc tế, vừa là 'phòng thí nghiệm thể chế' cho mô hình phát triển hiện đại, được kỳ vọng đưa Hưng Yên tăng trưởng bứt phá.
Động lực tăng trưởng mới từ khu kinh tế tích hợp đa ngành
Việc xây dựng Đề án Khu kinh tế tự do Hưng Yên đã được chính thức đưa vào Nghị quyết số 788/NQ-HĐND ngày 9/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026. Đây không chỉ là một nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn, mà là cấu phần cụ thể trong chương trình hành động trước mắt của tỉnh, gắn với mục tiêu tăng trưởng GRDP 10–10,5% và quy mô nền kinh tế khoảng 360.000 tỷ đồng.
Trong điều kiện các mô hình khu công nghiệp truyền thống dần bộc lộ giới hạn về lan tỏa giá trị và chất lượng tăng trưởng, Hưng Yên lựa chọn tiếp cận khu kinh tế tự do như một không gian phát triển mới, nơi kinh tế, đô thị và xã hội được tổ chức tích hợp, đồng thời mở ra khả năng thử nghiệm các cơ chế, chính sách vượt ra ngoài khung khổ quen thuộc.
Theo định hướng, khu kinh tế tự do Hưng Yên được xây dựng theo mô hình khu kinh tế tích hợp đa ngành, đa lĩnh vực, hình thành một hệ sinh thái kinh tế – đô thị – xã hội hoàn chỉnh. Trong đó, sản xuất công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, logistics, năng lượng mới và đô thị thông minh phát triển hài hòa, hỗ trợ lẫn nhau, thay vì tồn tại như những phân mảnh rời rạc.
Theo ông Lê Quang Hòa, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên, khu kinh tế tự do vừa được xác định là không gian thu hút dòng vốn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước, vừa là nơi thử nghiệm các cơ chế, chính sách mới trong quản lý đầu tư, đất đai, xây dựng, thương mại và lao động. Đây là điểm khác biệt căn bản so với các khu kinh tế trước đây, vốn chủ yếu dựa vào ưu đãi thuế và đất đai.
Cách tiếp cận hệ sinh thái của Hưng Yên được xây dựng trên năm trụ cột liên kết chủ chốt: sản xuất trong chuỗi cung ứng công nghiệp công nghệ cao; đổi mới sáng tạo thông qua mạng lưới trung tâm R&D, phòng thí nghiệm và cơ sở ươm tạo; logistics bảo đảm lưu chuyển hàng hóa, nguyên liệu và thành phẩm thông suốt; năng lượng với hạ tầng năng lượng sạch, ổn định tại chỗ; và liên kết dịch vụ hỗ trợ, từ tài chính, bất động sản đến y tế, giáo dục, nhà ở chuyên gia và các dịch vụ đô thị chất lượng cao.
Về không gian phát triển, khu kinh tế tự do được định hướng theo mô hình khu ven biển hiện đại, kế thừa cấu trúc Khu kinh tế Thái Bình trước đây khoảng 30.580ha và nghiên cứu mở rộng về phía Tây khoảng 13.000ha, lấn biển phía Đông khoảng 17.000ha trong tương lai. Không gian phát triển được phân thành các phân khu chức năng rõ ràng, gắn với định hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị và logistics của toàn vùng ven biển.

Phối cảnh tổng thể không gian khu kinh tế ven biển Thái Bình (cũ), một phần trong đề án khu kinh tế tự do mới của Hưng Yên.
Cụ thể, phân khu phía Bắc tập trung phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ cao và các ngành công nghiệp thế hệ mới, bao gồm cả những lĩnh vực có tiềm năng hình thành trong tương lai.
Phân khu trung tâm, với trọng tâm là khu vực Cửa Trà Lý – Diêm Điền, được định hướng xây dựng hai cảng biển nước sâu và sân bay, hình thành trung tâm logistics – cảng biển, trung tâm năng lượng và các hạ tầng động lực của toàn khu. Trong khi đó, phân khu phía Nam phát triển không gian đô thị – dịch vụ – du lịch ven biển, kết hợp các khu vui chơi, giải trí, sân golf và du lịch sinh thái chất lượng cao.
Việc mở rộng và lấn biển được đặt trong yêu cầu chặt chẽ về bảo vệ môi trường, đặc biệt là gìn giữ hệ sinh thái đất ngập mặn, khu vực đa dạng sinh học và cảnh quan tự nhiên đặc thù. Đồng thời, quá trình triển khai khu kinh tế cũng phải gắn với ổn định đời sống và sinh kế của cộng đồng dân cư hiện hữu, kết hợp hài hòa giữa phát triển mới và tái thiết các khu dân cư theo hướng bền vững.
Theo đề án, khu kinh tế tự do Hưng Yên xác định 15 ngành, lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, được chia thành hai mức độ. Nhóm ưu tiên số 1 gồm các ngành có sức hấp dẫn thị trường cao và khả năng cạnh tranh nổi bật tại địa phương, bao gồm: điện tử, sản xuất máy móc – thiết bị, dược phẩm và công nghệ sinh học, công nghệ robot, dịch vụ logistics và năng lượng tái tạo. Đây được xem là các trụ cột tạo giá trị gia tăng cao và khả năng lan tỏa mạnh cho nền kinh tế địa phương.
Nhóm ưu tiên số 2 gồm các ngành có tiềm năng phát triển trong trung hạn và đóng vai trò bổ trợ cho hệ sinh thái công nghiệp – dịch vụ, như bán dẫn, hàng không và hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin, công nghệ nông nghiệp và chế biến thực phẩm, nghiên cứu và phát triển (R&D), dịch vụ tài chính, bất động sản – xây dựng, du lịch và y tế.
Cách phân tầng này cho thấy Hưng Yên không chỉ nhắm tới những ngành “đang nóng”, mà còn chuẩn bị dư địa cho các ngành chiến lược của tương lai.
Mô hình thể chế và quản trị: Trọng tâm của khác biệt
Một trong những điểm nhấn then chốt của khu kinh tế tự do Hưng Yên nằm ở mô hình thể chế và quản trị. Theo định hướng, Ban quản lý Khu kinh tế tự do sẽ được thiết kế với mức độ tự chủ cao, được phân cấp, phân quyền mạnh và đủ thẩm quyền trong quyết định, phê duyệt và điều hành các hoạt động đầu tư, đất đai, xây dựng, thương mại và lao động trong phạm vi khu.
Cùng với đó, chuyển đổi số được áp dụng mạnh mẽ trong quản lý, hướng tới đơn giản hóa và số hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thông thoáng và có khả năng cạnh tranh quốc tế. Trọng tâm không phải là mở rộng ưu đãi tài chính, mà là nâng cao chất lượng điều hành và khả năng dự đoán chính sách – yếu tố ngày càng được các nhà đầu tư dài hạn coi trọng.
Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Nghĩa nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đề án để báo cáo Đảng ủy Chính phủ, trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định. Theo ông, khu kinh tế tự do không chỉ là dự án kinh tế, mà còn là bước đi quan trọng trong cải cách thể chế, tạo nền tảng cho Hưng Yên phát triển nhanh và bền vững trong dài hạn.
Theo lộ trình đề xuất, khu kinh tế tự do được triển khai theo ba giai đoạn từ năm 2025 đến 2050, với tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 463.000 tỷ đồng, trong đó khu vực tư nhân giữ vai trò chủ đạo. Đến năm 2050, khu kinh tế này được kỳ vọng không chỉ đóng góp lớn cho ngân sách và việc làm, mà còn định hình lại vị thế phát triển của Hưng Yên trong cấu trúc kinh tế vùng và quốc gia.
Dự kiến đề án thu ngân sách khoảng 47.500 tỷ đồng vào năm 2030, tăng lên 364.000 tỷ đồng năm 2040 và khoảng 1,3 triệu tỷ đồng vào năm 2050. Nguồn thu ngân sách nhà nước phát sinh trực tiếp từ khu kinh tế dự kiến đạt 4.200 tỷ đồng năm 2030, mức 25.000 tỷ đồng năm 2040 và 50.000 tỷ đồng vào năm 2050.
Khu kinh tế tự do được kỳ vọng tạo hơn 300.000 việc làm năm 2030, trên 870.000 việc làm năm 2040 và vượt 1,2 triệu việc làm vào năm 2050, qua đó định hình vai trò trụ cột tăng trưởng dài hạn của Hưng Yên.
Nhìn tổng thể, khu kinh tế tự do Hưng Yên phản ánh một cách tiếp cận mới trong phát triển địa phương: cạnh tranh không chỉ bằng đất đai hay ưu đãi, mà bằng chất lượng thể chế và năng lực tổ chức không gian phát triển. Nếu được triển khai đúng định hướng, đây có thể trở thành mô hình tham chiếu cho thế hệ khu kinh tế mới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.












