Hướng dẫn kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán thuế trên thị trường tài sản mã hóa
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 41/2026/TT-BTC hướng dẫn việc kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán thuế trên thị trường tài sản mã hóa. Thông tư được ban hành trên cơ sở Nghị quyết 05/2025/NQ-CP, qua đó thiết lập các quy định cụ thể về kê khai, khấu trừ, nộp và quyết toán thuế, góp phần định hình một thị trường minh bạch, có kiểm soát.
Cơ chế quản lý thuế đồng bộ
Theo quy định tại Thông tư, tổ chức có hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP (sau đây gọi là Tổ chức cung cấp dịch vụ), tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, các tổ chức này có hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa trên thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam thực hiện kê khai, nộp thuế.
Cụ thể, đối với thuế giá trị gia tăng, tổ chức cung cấp dịch vụ, tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam có hoạt động quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 32/2026/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa thực hiện kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng. Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CPР quy định chỉ tiết một số điều của Luật Quản lý thuế được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 373/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế.

Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn việc kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán thuế trên thị trường tài sản mã hóa
Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, tổ chức cung cấp dịch vụ, tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam phải xác định số thuế tạm nộp hàng quý để nộp tiền thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 91/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2020/NĐ-СР ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế.
Số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp được trừ với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán thuế năm. Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính, tổ chức cung cấp dịch vụ, tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam phải nộp hồ sơ quyết toán thuế năm.
Tăng trách nhiệm của tổ chức trung gian
Một điểm đáng chú ý tại Thông tư 41 là nội dung quy định trách nhiệm khấu trừ, nộp thuế thay, kê khai số thuế đã khấu trừ của tổ chức cung cấp dịch vụ. Theo đó, tổ chức cung cấp dịch vụ có trách nhiệm khấu trừ, nộp thuế thay số thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh đối với mỗi giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa mà tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước thực hiện thông qua Tổ chức cung cấp dịch vụ; khấu trừ, nộp thuế thay số thuế thu nhập cá nhân phát sinh đối với mỗi giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa mà cá nhân (bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú) thực hiện thông qua Tổ chức cung cấp dịch vụ.
Thời điểm thực hiện khấu trừ, xác định số thuế phải khấu trừ, tổ chức cung cấp dịch vụ thực hiện khấu trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp, số thuế thu nhập cá nhân phải nộp đối với mỗi giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa của tổ chức nước ngoài và cá nhân tại thời điểm xác nhận giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa thành công. Số thuế thu nhập doanh nghiệp, số thuế thu nhập cá nhân phải thực hiện khấu trừ được xác định theo tỷ lệ quy định tại khoản 3 Điều 4, Điều 5 Thông tư số 32/2026/TT-BTC.
Thông tư cũng quy định rõ, trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ. Theo đó, tổ chức cung cấp dịch vụ thực hiện khấu trừ thuế, kê khai số thuế đã khấu trừ, nộp số thuế đã khấu trừ chính xác, đầy đủ theo thông tin cung cấp của tổ chức nước ngoài và cá nhân theo quy định của pháp luật quản lý thuế; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế.
Bên cạnh đó, thực hiện quản lý tài khoản của các nhà đầu tư; lưu giữ đầy đủ, chính xác dữ liệu giao dịch, chuyển nhượng tài sản mã hóa phát sinh theo từng giao dịch, thông tin và tài liệu liên quan đến việc xác định số thuế phải khấu trừ, số thuế đã khấu trừ của người nộp thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Cấp chứng từ khấu trừ thuế đối với hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa theo Mẫu số 01/CTKT-TSMH ban hành kèm theo Thông tư này theo năm bằng phương thức điện tử cho người nộp thuế. Tổ chức xây dựng, vận hành hệ thống công nghệ thông tin và quản lý dữ liệu giao dịch tài sản mã hóa bảo đảm khả năng trích xuất, có khả năng tổng hợp theo năm và chuyển đổi dữ liệu theo định dạng phù hợp với hệ thống quản lý của cơ quan thuế.
Đồng thời, cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan đến hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 06 tháng 4 năm 2026 và được thực hiện thí điểm theo thời gian thực hiện thí điểm quy định tại khoản 9 Điều 4 và khoản 2, khoản 3 Điều 18 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP.











