Hướng đi bền vững đưa nông sản Việt tiếp cận trực tiếp thị trường toàn cầu

Ngành lương thực – thực phẩm và nông sản chế biến của Việt Nam đang có cơ hội lớn để mở rộng xuất khẩu, gia tăng giá trị và khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế.

Hội nghị tập huấn "Nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế về ngành hàng Lương thực - Thực phẩm và sản phẩm nông nghiệp sau chế biến" do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP Hồ Chí Minh (ITPC) phối hợp với Hiệp hội Lương thực Thực phẩm Thành phố tổ chức vào sáng 16/7. Hội nghị đã chia sẻ nhiều giải pháp để đưa nông sản Việt tiếp cận trực tiếp thị trường quốc tế.

Bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc ITPC cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 cả nước ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2025.

Những kết quả trên cũng cho thấy dư địa phát triển của ngành vẫn còn rất lớn. Đồng thời, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là CPTPP, EVFTA và nhiều FTA khác đang mở ra cơ hội rộng lớn cho hàng nông sản Việt Nam tiếp cận những thị trường có sức mua cao.

Tuy nhiên, theo bà Hồ Thị Quyên, ưu đãi thuế quan sẽ không tự động chuyển hóa thành hợp đồng xuất khẩu nếu doanh nghiệp không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, môi trường và phát triển bền vững. Đây chính là thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam phải vượt qua trong giai đoạn hội nhập mới.

Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu cạnh tranh bằng giá bán thì hiện nay, yếu tố quyết định sức cạnh tranh lại nằm ở chất lượng chuỗi sản xuất và mức độ minh bạch của toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm.

Theo Thạc sĩ Trần Thị Phương Hoa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP Hồ Chí Minh, thương mại toàn cầu đang chuyển dịch rất nhanh theo hướng phát triển bền vững. Người tiêu dùng quốc tế không chỉ quan tâm sản phẩm cuối cùng có ngon hay không, mà còn muốn biết sản phẩm được sản xuất như thế nào, có thân thiện với môi trường hay không, có bảo đảm trách nhiệm xã hội hay không.

Doanh nghiệp muốn tồn tại lâu dài phải chứng minh được tính minh bạch trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, chế biến, đóng gói cho đến vận chuyển và phân phối. Đây không còn là xu hướng mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Để không chỉ "đi xa" mà còn "đi thẳng" vào chuỗi phân phối toàn cầu, các doanh nghiệp Việt cần chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy xuất khẩu nguyên liệu sang xây dựng thương hiệu, chế biến sâu, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và tận dụng thương mại điện tử xuyên biên giới.

Để không chỉ "đi xa" mà còn "đi thẳng" vào chuỗi phân phối toàn cầu, các doanh nghiệp Việt cần chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy xuất khẩu nguyên liệu sang xây dựng thương hiệu, chế biến sâu, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và tận dụng thương mại điện tử xuyên biên giới.

Các thị trường như Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Canada liên tục nâng cao các tiêu chuẩn về phát thải carbon, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, lao động và bảo vệ môi trường. Ngay cả khi nhiều dòng thuế trong CPTPP được cắt giảm xuống 0%, doanh nghiệp vẫn phải vượt qua hàng loạt hàng rào kỹ thuật trước khi hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường.

Theo Thạc sĩ Đặng Bùi Khuê, Cố vấn cấp cao Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo SMP, CPTPP không chỉ đặt ra các yêu cầu về kiểm dịch động, thực vật (SPS) hay hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), mà còn bao gồm những cam kết pháp lý về lao động theo tiêu chuẩn ILO, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và nguồn nguyên liệu hợp pháp. Doanh nghiệp cần chuẩn bị nguồn lực tài chính phù hợp để đáp ứng chi phí kiểm nghiệm và chứng nhận quốc tế nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh.

Một trong những điểm nhấn đáng chú ý tại hội nghị là câu chuyện làm thế nào để nông sản Việt không chỉ xuất hiện trên kệ hàng quốc tế mà còn được người tiêu dùng toàn cầu nhận diện bằng chính thương hiệu Việt Nam.

Theo bà Nguyễn Lê Gia Khánh, Quản lý Tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam, nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam đang giữ vị trí dẫn đầu thế giới về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, không ít sản phẩm vẫn được tiêu thụ thông qua các nhà phân phối nước ngoài, khiến giá trị thương hiệu của doanh nghiệp Việt chưa được khẳng định tương xứng.

Thay vì chỉ xuất khẩu theo mô hình B2B truyền thống, doanh nghiệp hoàn toàn có thể bán trực tiếp đến người tiêu dùng (B2C), từng bước xây dựng thương hiệu riêng, đồng thời nắm bắt dữ liệu thị trường để cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và gia tăng giá trị. Nếu biết đầu tư đúng hướng, doanh nghiệp Việt hoàn toàn có thể đưa thương hiệu của mình tiếp cận trực tiếp hàng triệu người tiêu dùng trên thế giới, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các khâu trung gian.

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng phát triển, việc đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường không còn là lợi thế cạnh tranh mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để hàng hóa tham gia thị trường quốc tế.

Theo TS Hoàng Văn Việt, Nhà sáng lập và Chủ tịch Hội đồng Chiến lược Cộng đồng Doanh nhân Trí thức Toàn cầu (GIBA), các thị trường phát triển hiện không còn chấp nhận những cam kết chung chung về phát triển bền vững. Điều họ cần là những số liệu cụ thể, minh chứng rõ ràng cho toàn bộ quá trình sản xuất.

Bên cạnh yêu cầu về tiêu chuẩn xanh, bài toán nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản Việt Nam tiếp tục được nhiều chuyên gia đặt ra.

Mặc dù xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt mức cao, nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc tối ưu hóa giá trị tài nguyên, chưa tương xứng với tiềm năng.

Mặc dù xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt mức cao, nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc tối ưu hóa giá trị tài nguyên, chưa tương xứng với tiềm năng.

Theo ThS Nguyễn Lý Trường An, Phó Giám đốc Công ty TNHH Vận chuyển Thương mại Biển Xanh, mặc dù kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2025 của Việt Nam đã vượt mốc 70 tỷ USD, nhưng giá trị thu được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Tỷ lệ chế biến sâu mới đạt khoảng 23%. Nhiều mặt hàng chủ lực vẫn chủ yếu xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu, điển hình như cà phê có tới 91% xuất khẩu thô, khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Tỷ lệ hao hụt rau quả sau thu hoạch hiện lên tới 20 - 30% cùng áp lực từ các rào cản phi thuế quan đang ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.

Để phát triển bền vững và tiếp cận trực tiếp thị trường toàn cầu, nông sản Việt cần chuyển từ tư duy "xuất khẩu những gì mình có" sang "sản xuất những gì thị trường cần", đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, đáp ứng tiêu chuẩn xanh, ứng dụng chuyển đổi số và thương mại điện tử xuyên biên giới. Cùng với việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, doanh nghiệp chuyển từ "xuất khẩu thô" sang "định vị thương hiệu xanh", nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế nông sản Việt trên thị trường quốc tế.

Nguyễn Cảnh

Nguồn CAND: https://cand.vn/huong-di-ben-vung-dua-nong-san-viet-tiep-can-truc-tiep-thi-truong-toan-cau-post816980.html