Hướng mở giám sát, bảo vệ, phục hồi san hô
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để giám sát, nhận diện, phân tích mối nguy đối với giống san hô và nỗ lực phục hồi san hô cứng đã đem lại những thành quả quan trọng trong bảo tồn biển của Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm.

Thu thập dữ liệu hợp phần đáy theo công nghệ ReefCloud để giám sát, phân tích, nhận diện suy thoái san hô ở Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm. Ảnh: Bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm
San hô phục hồi, độ phủ rạn san hô tăng lên đã khiến cho nguồn lợi biển phát triển, cảnh quan môi trường, sinh thái biển, đa dạng sinh học được cải thiện. Từ đó, các dịch vụ tham quan biển, lặn ngắm san hô mở ra cơ hội cho người dân Cù Lao Chàm (xã đảo Tân Hiệp) phát triển du lịch nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Đây là hướng phát triển bền vững, tạo sinh kế cho người dân, thu hút nguồn lực, trách nhiệm của cộng đồng trong bảo tồn thiên nhiên.
Dùng AI để nhận diện suy thoái của san hô
ThS. Trần Thị Phương Thảo, chuyên viên Phòng Khoa học & hợp tác quốc tế (Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng) cho biết, rạn san hô là một trong những hệ sinh thái biển quan trọng đóng vai trò bảo vệ bờ biển, cung cấp môi trường sống cho nhiều loài sinh vật biển.
Đáng lo ngại, rạn san hô ở Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và mặt trái các hoạt động kinh tế - xã hội của con người. Giám sát định kỳ rạn san hô là một yêu cầu cấp thiết nhằm nắm bắt tình trạng, diễn biến của hệ sinh thái để từ đó đề xuất các giải pháp quản lý và phục hồi hiệu quả.
Tại Cù Lao Chàm, diện tích rạn san hô lên đến 356,4ha phân bố quanh các khu vực đảo lớn, nhỏ. Để giám sát san hô, các khu bảo tồn trên thế giới sử dụng nhiều công nghệ như GIS (hệ thống thông tin địa lý); công nghệ viễn thám (sử dụng ảnh vệ tinh và drone để giám sát từ xa); hệ thống giám sát tự động dưới nước (sử dụng cảm biến và máy quay để thu thập dữ liệu liên tục về chất lượng nước, dòng chảy, sự phát triển của san hô) và trí tuệ nhân tạo (AI).
Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm đã tiếp cận, ứng dụng nền tảng ReefCloud.ai (do Viện Khoa học biển Úc (AIMS) phát minh) là một công cụ mã nguồn mở sử dụng AI để phân tích hình ảnh rạn san hô.

Đa dạng sinh học, sinh thái biển quanh các rạn san hô ở Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm. Ảnh: QUANG VIỆT
ReefCloud cho phép tải ảnh giám sát lên hệ thống đám mây để quản lý, lưu trữ và phân tích tự động dựa trên 20-30% tỷ lệ điểm ảnh được gắn nhãn. Kiểm định chất lượng bằng chỉ số F1 (>0,64) và sai số
Sau 2 năm triển khai, đến nay Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm đã thu thập được 5.733 ảnh (tương đương với 286.700 điểm ảnh) tại 10 địa điểm giám sát được ReefCloud sử dụng để phân tích hợp phần đáy rạn san hô. Trong đó, đã có 61,8% số lượng điểm ảnh được kiểm định bởi các chuyên gia từ AIMS và được cán bộ khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm gắn nhãn.
Ứng dụng AI thông qua nền tảng ReefCloud đã mở ra hướng đi mới trong công tác giám sát rạn san hô. Đây không chỉ là bước tiến trong công nghệ mà còn hội nhập quốc tế để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học tốt hơn.
Nỗ lực phục hồi san hô cứng
Phục hồi san hô không chỉ cải thiện độ phủ của san hô mà còn khôi phục các rạn và nguồn lợi đi kèm. Ở một số nơi trên thế giới, san hô được phục hồi bằng rạn nhân tạo, di dời san hô, nuôi phục hồi ấu thể, tách tập đoàn san hô... Mỗi phương pháp có những ưu, nhược điểm và yêu cầu khác nhau. Tùy vào điều kiện cụ thể của từng nơi mà cán bộ bảo tồn biển lựa chọn phương pháp phục hồi thích hợp.

Cộng động tham gia phục hồi san hô gắn với hoạt động du lịch lặn biển ngắm rạn san hô. Ảnh: QUANG VIỆT
Ông Lê Vĩnh Thuận, Phó Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm cho biết, đơn vị đã sử dụng 2 phương pháp là tách tập đoàn san hô và xây dựng trang trại san hô để tiến hành phục hồi. Sau 2 năm triển khai, kết quả đã phục hồi được gần 3.000 tập đoàn san hô trải đều trên nền diện tích 4.000m2 và 2 vườn ươm với tổng cộng 30 khung tại Bãi Bò và Bãi Nần. Tỷ lệ sống chung cho toàn khu vực đạt khá cao (gần 80%), tốc độ tăng trưởng của từng vùng là 5,36cm/năm. Trong đó, giống Acropora sp có tốc độ tăng trưởng cao nhất (5,82mm/tháng) nên được ưu tiên lựa chọn để phục hồi san hô trong khu bảo tồn thời gian đến.
Cùng với tăng lên của độ phủ san hô, số lượng cá rạn, động vật đáy không xương sống quanh các khu vực phục hồi san hô đều tăng lên. Tách chiết tập đoàn san hô từ các vùng cho giống không những không gây ảnh hưởng đến nguồn lợi mà còn giúp tăng thêm đa dạng sinh học, sinh thái biển ở các vùng rạn san hô.
Đặc biệt, phục hồi san hô đã thu hút tham gia của cộng đồng cư dân xã đảo Tân Hiệp vào công tác bảo tồn biển nói chung, bảo vệ rạn san hô nói riêng. Một tổ cộng đồng được ra đời tham gia vào tổ chức các buổi tham vấn bảo vệ nguồn lợi biển; tuần tra trên biển; đưa ra các đề xuất với cấp trên về bảo vệ ngư trường, khai thác hải sản hợp lý trong khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm và làm du lịch. Cộng đồng cư dân hiểu hơn về vai trò, tầm quan trọng của hệ sinh thái rạn san hô, đóng góp thiết thực vào công tác bảo tồn biển và khai thác hợp lý tài nguyên để sinh kế bền vững.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/huong-mo-giam-sat-bao-ve-phuc-hoi-san-ho-3327614.html












