Iran nói chưa 'đánh tất tay', còn chiến thuật 'độc cô cầu bại', có đòn bẩy vĩnh viễn

Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) vừa tuyên bố: 'Chúng tôi chưa sử dụng hết tất cả khả năng, đang phát triển các chiến thuật tác chiến mới mà đối thủ không có khả năng đối phó; nếu chiến tranh tiếp diễn, chúng tôi sẽ phô diễn những năng lực mà đối phương không thể hình dung'. Trong khi đó, hãng tin Iran PressTV nhận định, Iran đang nhắm ba mục tiêu ở eo biển Hormuz: an ninh, doanh thu và đòn bẩy chiến lược.

Đối với Iran, eo biển Hormuz không phải là quân bài mặc cả hay mối đe dọa, mà là lợi thế địa lý bất biến: một nguồn đòn bẩy vĩnh viễn bắt nguồn từ 1.600 km bờ biển phía Bắc, các đảo có vị trí chiến lược đóng vai trò như những nền tảng không thể bị đánh chìm, và một học thuyết quân sự bất đối xứng khiến ưu thế hải quân thông thường trở nên không còn ý nghĩa.

Lãnh tụ tối cao Iran Mojtaba Khamenei ngày 9/4, nhân dịp tròn 40 ngày từ khi người tiền nhiệm của ông tử vì đạo, tuyên bố Iran sẽ đưa việc quản lý eo biển Hormuz sang một giai đoạn hoàn toàn mới - một giai đoạn biến định mệnh địa lý thành sức mạnh kinh tế và chiến lược lâu dài.

“Chúng tôi chưa sử dụng hết mọi khả năng, và nếu chiến tranh tiếp diễn, chúng tôi sẽ phô diễn những năng lực mà đối thủ không có khả năng đối phó”, hãng tin Iran Fars ngày 14/4 dẫn lời người phát ngôn IRGC - Chuẩn tướng Hossein Mohebbi.

Iran đã và đang biến eo biển Hormuz, điểm nghẽn năng lượng quan trọng nhất thế giới, thành một công cụ mang tính chiến lược lâu dài. Minh họa: Discovery Alerts.

Iran đã và đang biến eo biển Hormuz, điểm nghẽn năng lượng quan trọng nhất thế giới, thành một công cụ mang tính chiến lược lâu dài. Minh họa: Discovery Alerts.

Kho vũ khí bất đối xứng

Những thành tựu quân sự-công nghệ của Iran trong cuộc chiến gần đây cho thấy một logic kinh tế thông minh, có lợi cho bên phòng thủ so với bên tấn công.

Vũ khí lảng vảng, máy bay không người lái (UAV) Shahed-136 có chi phí sản xuất khoảng 20.000 USD, trong khi tên lửa đánh chặn SM-6 của Mỹ có giá khoảng 4 triệu USD mỗi quả. Iran có thể phóng 200 UAV với chi phí tương đương một tên lửa đánh chặn của Mỹ.

Trong các cuộc tấn công bão hòa thuộc các chiến dịch Lời hứa đích thực 1, 2 và 3, Iran đã làm quá tải các hệ thống phòng thủ Aegis tiên tiến không phải bằng công nghệ vượt trội mà bằng số lượng áp đảo, PressTV nhận định.

Lực lượng hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran tập trận ở eo biển Hormuz hồi tháng 2/2026. Video: Money Control/IRGC.

Ngay cả khi 95% số UAV bị đánh chặn, 5% còn lại vẫn có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho một tàu khu trục trị giá hàng tỷ USD hoặc một tàu chở dầu quan trọng.

Tỷ lệ chi phí này đảm bảo rằng bất kỳ cuộc đối đầu hải quân kéo dài nào trong vùng nước chật hẹp của eo biển Hormuz đều trở nên không bền vững về mặt kinh tế đối với bất cứ đối thủ nào.

Các UAV có thể được phóng từ gần như bất kỳ điểm nào trên lãnh thổ Iran, khiến ưu thế hải quân hoặc các chiến dịch đổ bộ ven biển của đối phương trở nên vô nghĩa, bên cạnh đó còn có hàng chục nghìn UAV tầm ngắn và các loại tên lửa luôn trong trạng thái sẵn sàng.

Shahed 136 là dòng UAV tự sát do Iran phát triển, được thiết kế để bay hàng nghìn kilomet và tấn công (đơn lẻ hoặc bầy đàn) bằng cách lao thẳng vào mục tiêu với đầu đạn nổ. Ảnh: Alamy.

Shahed 136 là dòng UAV tự sát do Iran phát triển, được thiết kế để bay hàng nghìn kilomet và tấn công (đơn lẻ hoặc bầy đàn) bằng cách lao thẳng vào mục tiêu với đầu đạn nổ. Ảnh: Alamy.

Thủy lôi: Công cụ rẻ, hiệu quả cao

Bên cạnh UAV và tên lửa, Iran còn sở hữu một năng lực khiến eo biển Hormuz luôn ở trạng thái dễ bị gián đoạn: chiến tranh thủy lôi.

Sử dụng rocket Fajr-5 với tầm bắn 70 km, Iran có thể triển khai các loại thủy lôi từ tính, thông minh và hiện đại dọc theo toàn bộ chiều dài eo biển mà không cần sử dụng tàu mặt nước. Mỗi quả mìn chỉ có giá vài nghìn USD.

Việc rà phá một bãi mìn như vậy sẽ đòi hỏi lực lượng hải quân liên minh ít nhất sáu tháng hoạt động chậm và nguy hiểm. Trong thời gian đó, nền kinh tế toàn cầu sẽ phải đối mặt tình trạng thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng và gián đoạn nguồn cung lương thực.

Chi phí phụ trợ đối với Iran là rất nhỏ, trong khi đối phương phải gánh chịu tổn thất hàng tỷ USD mỗi ngày. Đây không phải là kịch bản giả định mà là một năng lực đã được chứng minh, tạo nền tảng cho khả năng răn đe lâu dài của Iran, theo các chuyên gia.

Iranh có thể đã rải nhiều thủy lôi ở eo biển Hormuz. Minh họa: The Chosun Daily.

Iranh có thể đã rải nhiều thủy lôi ở eo biển Hormuz. Minh họa: The Chosun Daily.

Iran được xem là một trong những quốc gia có năng lực chiến tranh thủy lôi đáng chú ý, với kho dự trữ ước tính từ 2.000-6.000 quả đủ loại, từ đơn giản đến hiện đại, theo Trung tâm Stimson (Mỹ).

Trong số đó, phổ biến nhất là thủy lôi tiếp xúc - loại cổ điển được neo bằng dây dưới nước, nổi gần mặt biển và phát nổ khi tàu va chạm trực tiếp, với các mẫu như Maham-1 hay Sadaf-02.

Bên cạnh đó, Iran còn sở hữu thủy lôi neo có cảm biến, có thể kích nổ bằng âm thanh hoặc từ trường mà không cần va chạm, tiêu biểu là Maham-3.

Nguy hiểm hơn là các loại thủy lôi đáy, nằm im dưới đáy biển, gần như không thể quan sát từ trên mặt nước và kích nổ bằng áp suất, âm thanh hoặc từ trường, như Maham-2, Maham-6 hay MD-11/MD-12, theo GlobalSecurity.org. Những loại này thậm chí có thể được lập trình thông minh để đếm số tàu đi qua hoặc trì hoãn kích nổ, khiến việc rà phá trở nên cực kỳ khó khăn.

Ở cấp độ cao hơn, Iran phát triển các thủy lôi thông minh có khả năng nhận diện đặc điểm nhận dạng của tàu, bỏ qua mục tiêu nhỏ và chỉ tấn công tàu lớn, tăng hiệu quả trong chiến tranh bất đối xứng, theo Forces News.

Đặc biệt nguy hiểm là thủy lôi “bắn lên” như EM-52, có thể phóng đầu đạn từ đáy biển lên đánh vào phần đáy tàu - điểm yếu chí mạng của các tàu lớn.

Ngoài ra, Iran còn sở hữu thủy lôi tự hành, có khả năng di chuyển như ngư lôi để chủ động tiếp cận mục tiêu, cũng như thủy lôi gắn trực tiếp do thợ lặn triển khai trong các chiến dịch bí mật.

Việc kết hợp đa dạng các loại thủy lôi từ đơn giản đến hiện đại cho phép Iran tạo ra một hệ thống phòng thủ-tấn công nhiều lớp trên biển. Chính chiến lược này khiến các tuyến hàng hải quan trọng như eo biển Hormuz trở thành điểm nghẽn tiềm tàng, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh hàng hải và thương mại toàn cầu.

Thuyền nhỏ chở một quả thủy lôi Maham-1 của Iran. Ảnh: Hisutton.

Thuyền nhỏ chở một quả thủy lôi Maham-1 của Iran. Ảnh: Hisutton.

Vũ khí an ninh lương thực

Ảnh hưởng của eo biển Hormuz không chỉ dừng lại ở lĩnh vực năng lượng. Iran là nguồn cung urê lớn nhất thế giới - một loại phân đạm thiết yếu cho nông nghiệp toàn cầu.

Khu vực Vịnh Ba Tư rộng lớn chi phối thương mại này, và bất kỳ sự gián đoạn nào trong vận chuyển đều tự động đẩy giá urê quốc tế tăng từ 25-30%.

Sự gia tăng này trực tiếp làm gián đoạn chuỗi cung ứng phân bón cho các quốc gia nhập khẩu lớn như Ấn Độ, Brazil, Pakistan, Bangladesh và phần lớn các nước châu Phi.

Hệ quả là một cuộc khủng hoảng lương thực lan rộng: giá lúa mì và gạo tăng vọt, lạm phát thực phẩm toàn cầu leo thang, và mối đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực của hàng tỷ người.

Do đó, eo biển Hormuz hoạt động như một điểm nghẽn kép, đối với cả năng lượng và lương thực, trao cho Iran khả năng tác động đến nền kinh tế toàn cầu mà không cần phóng thêm một tên lửa nào.

Cuộc cách mạng “trạm thu phí”: Thương mại hóa điểm nghẽn

Trong suốt cuộc chiến kéo dài hơn 40 ngày, Iran đã nhanh chóng kích hoạt một giai đoạn mới trong quản lý eo biển Hormuz. Nước này được cho là đã đề xuất mức phí quá cảnh 1 USD cho mỗi thùng dầu, tương đương khoảng 2 triệu USD cho mỗi siêu tàu chở dầu (VLCC).

Doanh thu tiềm năng hằng năm từ hệ thống này là rất lớn: từ 70-100 tỷ USD. Để so sánh, tổng doanh thu xuất khẩu dầu của Iran năm 2024 chỉ khoảng 46,7 tỷ USD.

Một hệ thống thu phí có thể tạo ra gần gấp đôi số tiền đó mà không cần bán thêm một thùng dầu nào - một bước đi mang tính đột phá từ phía Iran.

Đáng chú ý, các tàu “thân thiện”, đặc biệt là từ Trung Quốc, Nga và Pakistan, có thể thanh toán phí bằng nhân dân tệ, ruble hoặc tiền điện tử như USDT và Bitcoin, đảm bảo hành trình an toàn và liên tục, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào đồng USD.

Chính sách này biến eo biển Hormuz từ một tuyến trung chuyển thụ động thành một tài sản kinh tế chủ động, có thể sánh ngang với doanh thu hằng tháng khoảng 8 tỷ USD của kênh đào Suez đối với Ai Cập.

Iran được cho là đã đề xuất mức phí quá cảnh 1 USD cho mỗi thùng dầu, tương đương khoảng 2 triệu USD cho mỗi siêu tàu chở dầu (VLCC). Minh họa: Discovery Alert.

Iran được cho là đã đề xuất mức phí quá cảnh 1 USD cho mỗi thùng dầu, tương đương khoảng 2 triệu USD cho mỗi siêu tàu chở dầu (VLCC). Minh họa: Discovery Alert.

“Tàu sân bay không thể bị đánh chìm”

Eo biển Hormuz không phải là một con kênh có thể đi vòng hay một tuyến đường có thể tái tạo. Tại điểm hẹp nhất có thể lưu thông, tuyến đường chiến lược này chỉ rộng 39 km, với các làn tàu bị thu hẹp xuống chỉ còn 3,6 km cho mỗi chiều.

Đường bờ biển của Iran kéo dài hơn 1.600 km dọc theo vòng cung phía bắc của Vịnh Ba Tư và Biển Oman, mang lại cho Cộng hòa Hồi giáo một tuyến kiểm soát lãnh thổ liên tục.

Các đảo có vị trí chiến lược, Qeshm, Hormuz, Larak, Abu Musa và quần đảo Tunb, đóng vai trò là các nền tảng tác chiến tiền phương, được các nhà phân tích quân sự gọi là “tàu sân bay không thể bị đánh chìm”.

Từ các tiền đồn có chủ quyền này, Hải quân của IRGC triển khai UAV giám sát liên tục, lưới tên lửa ven biển và tàu tấn công nhanh.

Theo PressTV, do toàn bộ tuyến đường thủy nằm trong phạm vi 24 hải lý (hơn 44 km) tính từ lãnh thổ Iran, chế độ pháp lý điều chỉnh theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển không phải là quyền quá cảnh tự do mà là quyền đi qua vô hại - một sự khác biệt cho phép Iran có thẩm quyền hợp pháp trong việc điều tiết hoạt động của tàu thuyền.

Hàng trăm tàu chở dầu và các tàu khác đã bị mắc cạn ở Vịnh Ba Tư từ khi cuộc chiến giữa Mỹ và Israel chống lại Iran bắt đầu ngày 28/2/2026. Hình ảnh: Al Jazeera.

Hàng trăm tàu chở dầu và các tàu khác đã bị mắc cạn ở Vịnh Ba Tư từ khi cuộc chiến giữa Mỹ và Israel chống lại Iran bắt đầu ngày 28/2/2026. Hình ảnh: Al Jazeera.

Những con số định nghĩa sự phụ thuộc toàn cầu

Trong điều kiện bình thường trước cuộc chiến, eo biển Hormuz chứng kiến một dòng chảy thương mại toàn cầu dày đặc và ổn định.

Dữ liệu theo dõi hàng hải chi tiết cho thấy khoảng 130-140 tàu đi qua eo biển mỗi ngày, tương đương khoảng 4.000 tàu mỗi tháng, 48.000-50.000 tàu mỗi năm.

Trong số này, tàu chở dầu và khí đốt luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất, dao động từ 37-60% tổng lưu lượng tùy theo yếu tố mùa vụ và thị trường.

Các VLCC mỗi chiếc có khả năng chở tới 2 triệu thùng dầu thô, chiếm khoảng 35% lưu lượng tàu chở dầu, tiếp theo là các tàu Suezmax và Aframax. Suezmax là loại tàu lớn nhất có thể đi qua kênh đào Suez mà không cần nạo vét hay hỗ trợ đặc biệt, có trọng tải khoảng 120.000-200.000 tấn, còn Aframax là tàu chở dầu cỡ trung bình, có trọng tải khoảng 80.000-120.000 tấn.

Ngoài dầu mỏ, các tàu chở hàng rời vận chuyển quặng sắt, ngũ cốc và than chiếm khoảng 30-40% số lượt qua lại hàng ngày, trong khi các tàu LNG (khí tự nhiên hóa lỏng) và LPG (khí dầu mỏ hóa lỏng), dù chiếm tỷ trọng nhỏ hơn về số lượng, khoảng 100 lượt mỗi tháng hoặc 1.200 lượt mỗi năm, lại đại diện cho một tầng quan trọng về mặt chiến lược, khi khoảng 20% thương mại LNG toàn cầu đi qua Hormuz.

Eo biển vận chuyển khoảng 20,9 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương 20% tổng lượng tiêu thụ dầu toàn cầu và 25-27% thương mại dầu đường biển.

Về mặt kinh tế, giá trị năng lượng, chỉ tính riêng dầu mỏ, đi qua Hormuz vượt quá 1 tỷ USD mỗi ngày. Những con số này không phải là sự trừu tượng; chúng là nền tảng cấu trúc mà trên đó đòn bẩy chiến lược của Iran được xây dựng.

Theo báo cáo thị trường dầu mỏ hằng tháng của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), nhu cầu dầu mỏ toàn cầu dự kiến sẽ giảm 1,5 triệu thùng mỗi ngày trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6, Fars đưa tin ngày 14/4. IEA lưu ý: “Ban đầu, sự sụt giảm mạnh nhất về sử dụng dầu mỏ diễn ra ở Trung Đông và khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, sự sụt giảm nhu cầu sẽ lan rộng khi tình trạng khan hiếm và giá cả tiếp tục tăng cao”.

Với cả năm 2026, IEA hiện dự báo nhu cầu dầu mỏ toàn cầu sẽ giảm 80.000 thùng mỗi ngày. Về phía nguồn cung, cơ quan này cho biết đã có sự sụt giảm toàn cầu 10,1 triệu thùng mỗi ngày trong tháng trước, nhắc lại tuyên bố trước đó rằng các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng ở Tây Á và các hạn chế đang diễn ra đối với việc di chuyển của tàu chở dầu qua eo biển Hormuz đã dẫn đến sự gián đoạn nguồn cung dầu lớn nhất trong lịch sử.

Tàu hàng The Safeen Prestige treo cờ Malta. Ảnh: VesselFinder.

Tàu hàng The Safeen Prestige treo cờ Malta. Ảnh: VesselFinder.

Sụp đổ giao thông hàng hải: Từ dày đặc xuống gần như bằng không

Hiệu quả của học thuyết chiến lược của Iran đã được chứng minh chỉ trong vài ngày sau khi cuộc chiến với Mỹ và Israel bắt đầu ngày 28/2.

Đến đầu tháng 3, một bức tranh quan sát chi tiết dựa trên dữ liệu AIS (hệ thống nhận dạng tự động) ghi nhận 978 tàu hiện diện trong khu vực điểm nghẽn, bao gồm 342 tàu thuộc nhóm tàu chở dầu, nhiều chiếc trong số đó bị mắc kẹt hoặc neo đậu khi hoạt động thương mại gần như đình trệ.

Từ mức 130 chuyến đi qua mỗi ngày, con số này giảm xuống gần như bằng không.

Dữ liệu theo dõi tình báo hàng hải xác nhận rằng, tính đến ngày 19/3, có 1.290 tàu hàng và tàu chở dầu mang cờ nước ngoài vẫn còn nằm trong Vịnh Ba Tư, không thể rời đi.

Cơ cấu của đội tàu bị mắc kẹt này cho thấy rõ trọng lượng kinh tế thực sự của eo biển Hormuz: tàu chở hàng rời chiếm phân khúc lớn nhất với 415 chiếc phải nằm bất động, tiếp theo là 341 tàu hàng tổng hợp.

Quan trọng hơn, 283 tàu chở dầu thô và 226 tàu chở sản phẩm dầu cũng bị mắc kẹt, đại diện cho một phần đáng kể năng lực vận chuyển năng lượng toàn cầu.

Ngay cả đội tàu chở khí chuyên dụng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, với 51 tàu LNG bị mắc kẹt trong Vịnh Ba Tư vào thời điểm thế giới vốn đã phải đối mặt áp lực nguồn cung khí đốt.

Vận tải container, vốn vận hành theo mô hình logistics “đúng thời điểm”, cũng chịu cú sốc nghiêm trọng; 119 tàu container, bao gồm 17 tàu siêu lớn với trọng tải trên 100.000 tấn, bị “đóng băng”, mang theo hơn 270.000 TEU hàng hóa trị giá khoảng 10 tỷ USD.

Đây không chỉ là một sự gián đoạn mà gần như là một cuộc “sơ tán” toàn bộ vận tải thương mại khỏi động mạch năng lượng quan trọng nhất thế giới. Hơn 1.000 tàu bị ùn ứ trên khắp Vịnh Ba Tư, bao gồm 187 tàu chở đầy với tổng cộng 172 triệu thùng dầu.

Phí bảo hiểm vận tải tăng vọt, các hãng vận tải tuyên bố bất khả kháng, và thị trường năng lượng toàn cầu trải qua những cú sốc giá chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ.

Iran không cần phải đánh chìm một tàu chiến nào để khẳng định quyền kiểm soát. Chỉ cần chứng minh rằng vùng nước không an toàn đối với vận tải thương mại và thị trường sẽ tự điều chỉnh, PressTV nhận định.

Rủi ro với tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz hiện nay. Đồ họa: BBC.

Rủi ro với tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz hiện nay. Đồ họa: BBC.

Kinh tế tàu chở dầu: Thu nhập kỷ lục và cái giá của chiến tranh

Tác động tài chính từ việc Iran kiểm soát eo biển Hormuz thể hiện rõ nhất trên thị trường tàu chở dầu, nơi mức thu nhập đã phá vỡ mọi kỷ lục lịch sử.

Theo dữ liệu ngành, thu nhập trung bình có trọng số của tàu chở dầu đạt 133.735 USD mỗi ngày trong tháng 3/2026, cao gấp hơn bốn lần mức trung bình năm 2025 và là mức cao nhất từng được ghi nhận.

Các tàu VLCC, mỗi chiếc có khả năng chở tới 2 triệu thùng dầu, đạt mức thu nhập khoảng 200.000 USD mỗi ngày vào cuối tháng 3, trong khi tàu Suezmax tăng lên 330.000 USD mỗi ngày và Aframax lên 280.000 USD mỗi ngày - đều là những mức chưa từng có.

Những con số ấn tượng hơn xuất hiện trên thị trường giao ngay, nơi một số VLCC đạt mức cước từ 400.000-420.000 USD mỗi ngày, không phải do quy luật cung-cầu thông thường mà hoàn toàn do bù đắp rủi ro chiến tranh.

Cuộc khủng hoảng đã làm thay đổi căn bản các tuyến thương mại dầu toàn cầu.

Khi eo biển Hormuz chỉ hoạt động ở mức 1-5% công suất bình thường, các nhà máy lọc dầu châu Á và châu Âu buộc phải tìm nguồn cung thay thế từ Vịnh Mỹ và Tây Phi, khiến số lượng VLCC sẵn có tại Vịnh Mexico giảm 41% chỉ trong một tháng.

Việc chuyển hướng này buộc các tàu phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng ở Nam Phi, làm giảm thêm năng lực đội tàu trên thị trường và khiến chi phí vận tải, và do đó là giá năng lượng, sẽ duy trì ở mức cao trong tương lai gần.

Cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất của ngành hàng không trong nhiều năm đã trở nên nghiêm trọng hơn vào hôm 14/4, khi Qantas Airways cảnh báo chi phí tăng vọt, Lufthansa cho biết có thể phải cho dừng khai thác một số máy bay, và Virgin Atlantic cảnh báo về nguy cơ thiếu hụt nguồn cung, trong bối cảnh xung đột Iran đang siết chặt nguồn cung nhiên liệu, Fars đưa tin.

3 nền tảng không thể thay đổi

Sự thống trị lâu dài của Iran đối với eo biển Hormuz dựa trên ba nền tảng không thể thay đổi.

Thứ nhất, địa lý không thể di dời: eo biển là một điểm nghẽn cố định không có giải pháp thay thế khả thi ở quy mô lớn, và đường bờ biển 1.600 km của Iran là một “bức tường tự nhiên” mà không lực lượng xâm lược nào có thể chiếm giữ nếu không huy động hơn một triệu quân cùng hậu cần vượt quá khả năng của bất kỳ hải quân nào.

Thứ hai, công nghệ bất đối xứng đảm bảo đòn bẩy lâu dài: UAV chi phí thấp, lưới tên lửa ven biển và thủy lôi mang lại khả năng gây gián đoạn lớn với chi phí tối thiểu.

Thứ ba, sự phụ thuộc toàn cầu mang tính cấu trúc: châu Á nhận khoảng 75% nhập khẩu năng lượng qua hành lang này, và không có năng lực thay thế trong ngắn hạn.

Ba yếu tố này, địa lý, bất đối xứng và phụ thuộc, tạo thành một “tam giác đòn bẩy” vĩnh viễn mà không sức ép quân sự hay cưỡng ép ngoại giao nào có thể phá vỡ, PressTV nhận định.

Mỹ và Israel không kích Iran từ ngày 28/2 và eo biển Hormuz hiện trở thành mặt trận chính. Nguồn: Bohai Institute.

Mỹ và Israel không kích Iran từ ngày 28/2 và eo biển Hormuz hiện trở thành mặt trận chính. Nguồn: Bohai Institute.

Phép toán của đòn bẩy vĩnh viễn

Iran tìm kiếm ba mục tiêu từ eo biển Hormuz: doanh thu, an ninh và đòn bẩy chiến lược.

Về kinh tế, nước này đang biến tuyến đường thủy chiến lược tại Vịnh Ba Tư thành một “trạm thu phí”, tạo ra từ 70-100 tỷ USD mỗi năm.

Về quân sự, Iran tận dụng địa lý chật hẹp và các UAV giá rẻ sản xuất hàng loạt để vô hiệu hóa mọi lợi thế công nghệ của đối thủ.

Về chiến lược, nước này có thể tác động nền kinh tế toàn cầu, cả chuỗi cung ứng năng lượng và lương thực, coi đây là một sự bảo đảm rằng bất kỳ mối đe dọa mang tính sinh tồn nào đối với Tehran sẽ kéo theo một cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính sinh tồn đối với phần còn lại của thế giới.

Với khoảng 50.000 tàu đi qua mỗi năm, hơn 7 tỷ thùng dầu được vận chuyển qua vùng biển này, và tiềm năng thu phí lên tới 100 tỷ USD, phép toán quyền lực là điều không thể phủ nhận.

Mỹ và Iran đã nhất trí ngừng bắn tới ngày 21/4, nhưng nguy cơ tái bùng phát chiến sự ở Trung Đông hiện vẫn rất cao. Ảnh: Special Eurasia.

Mỹ và Iran đã nhất trí ngừng bắn tới ngày 21/4, nhưng nguy cơ tái bùng phát chiến sự ở Trung Đông hiện vẫn rất cao. Ảnh: Special Eurasia.

Ngôn ngữ của những lời đe dọa nhằm vào Tehran sẽ luôn phải đối mặt với thực tế lặng lẽ nhưng không thể chối cãi của bản đồ: eo biển Hormuz luôn là lãnh thổ chiến lược vĩnh viễn của Iran, PressTV nhận định.

Thái An

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/iran-noi-chua-danh-tat-tay-con-chien-thuat-doc-co-cau-bai-co-don-bay-vinh-vien-post1835874.tpo