Kết nối các nguồn lực, hình thành chuỗi giá trị mới

Sau hợp nhất, Gia Lai có thêm điều kiện tổ chức lại không gian kinh tế, kết nối vùng nguyên liệu với chế biến, logistics, thương mại và thị trường.

Cùng với vai trò kiến tạo của Nhà nước, năng lực cộng đồng doanh nghiệp sẽ quyết định mức độ khai thác lợi thế, hình thành sản phẩm và chuỗi giá trị mới.

Kiến tạo nền tảng, hoàn thiện thể chế

Không gian kinh tế rộng hơn đang đặt ra yêu cầu tổ chức lại quy hoạch, hạ tầng và các nguồn lực phát triển của Gia Lai. Với doanh nghiệp, điều họ cần không chỉ là thêm đất, thêm đường hay thêm chính sách, mà là một môi trường có thể dự báo để mạnh dạn bỏ vốn và tính chuyện đầu tư lâu dài.

Sau hợp nhất tỉnh, theo ông Phan Thanh Thiên - Tổng Giám đốc Trường Sinh Group, Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), điều đáng chú ý không chỉ là không gian hành chính rộng hơn mà còn là khả năng tổ chức lại các nguồn lực trong một không gian kinh tế lớn hơn. Vùng nguyên liệu, công nghiệp chế biến, logistics, thương mại và thị trường có điều kiện được kết nối thay vì phát triển rời rạc.

Từ góc nhìn doanh nghiệp đầu tư tại tỉnh, ông Thiên cho rằng đây là cơ hội thay đổi cách tiếp cận đầu tư; nếu quy hoạch đồng bộ, hạ tầng đi trước, thủ tục thông thoáng và doanh nghiệp chủ động đổi mới, quy mô mới của tỉnh sẽ có thêm điều kiện phát huy.

Đầu tư công để mở đường

Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh yêu cầu Nhà nước phải đi trước một bước về quy hoạch và hạ tầng. Tại Hội thảo “Hạ tầng liên kết - Động lực thu hút đầu tư, phát triển du lịch miền Trung - Tây Nguyên”, ngày 13-8, Chủ tịch UBND tỉnh - cho rằng: “Nhà nước phải kiến tạo trước bằng quy hoạch, ý tưởng phát triển và đầu tư hạ tầng thiết yếu. Khi có hạ tầng cơ bản, doanh nghiệp mới mạnh dạn đầu tư vào các dự án tiếp theo”.

Với ông Phan Thanh Thiên, hiệu quả lan tỏa là yếu tố cần tính đến trong đầu tư công. 1 tuyến đường, cây cầu, hệ thống logistics hay hạ tầng khu công nghiệp nếu được đầu tư đúng chỗ có thể tạo sức hút, kéo theo các dự án tư nhân. Đó chính là ý nghĩa của “vốn mồi”.

 Vườn sâm của Trường Sinh Group trồng tại đỉnh núi Ngọc Linh (tỉnh Quảng Ngãi). Ảnh : ĐVCC

Vườn sâm của Trường Sinh Group trồng tại đỉnh núi Ngọc Linh (tỉnh Quảng Ngãi). Ảnh : ĐVCC

Theo ông, khi xây dựng kế hoạch đầu tư công cần tính đến khả năng một đồng vốn ngân sách tạo ra bao nhiêu vốn xã hội, việc làm, ngành kinh tế và thị trường mới cho doanh nghiệp.

Nếu đầu tư công đi vào những lĩnh vực khu vực tư nhân có thể làm hiệu quả hơn, Nhà nước dễ rơi vào tình trạng “làm thay” thị trường. Ông Thiên kỳ vọng Gia Lai đi trước một bước về hạ tầng để mở đường cho đầu tư tư nhân tại những không gian có tiềm năng hình thành các cực tăng trưởng mới.

 Sản phẩm từ dược liệu được trưng bày tại Trường Sinh Group (Khu công nghiệp Trà Đa, phường Pleiku). Ảnh: H.D

Sản phẩm từ dược liệu được trưng bày tại Trường Sinh Group (Khu công nghiệp Trà Đa, phường Pleiku). Ảnh: H.D

Ở góc độ quản lý nguồn lực, Giám đốc Sở Tài chính Trần Cang cho rằng, giải ngân vốn đầu tư công phải gắn với tiến độ và hiệu quả thực hiện dự án. Theo đó, trọng tâm là tháo gỡ các điểm nghẽn, nhất là giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, để các công trình sớm phát huy hiệu quả, tạo động lực tăng trưởng.

Kỳ vọng từ khu vực kinh tế tư nhân

Kế hoạch số 16-KH/TU ngày 21-8-2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị đặt ra các mục tiêu cụ thể đối với khu vực kinh tế tư nhân:

- Đến năm 2030, phấn đấu có 50.000-55.000 doanh nghiệp hoạt động; có ít nhất 1 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Kinh tế tư nhân tăng trưởng bình quân 10,5-11,5%/năm, đóng góp 83-86% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước; năng suất lao động tăng bình quân 12,5-13%/năm; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 30%.

- Đến năm 2035, phấn đấu có khoảng 70.000 doanh nghiệp hoạt động. Kinh tế tư nhân tăng trưởng bình quân 10,5-11%/năm, đóng góp 85-87% GRDP và 40-45% tổng thu ngân sách nhà nước; năng suất lao động tăng bình quân 11-11,5%/năm.

Yêu cầu không chỉ là giải ngân vốn mà còn đưa công trình vào sử dụng, tập trung vào những điểm nghẽn hạ tầng để tạo điều kiện cho nguồn lực tư nhân tham gia sản xuất, chế biến, dịch vụ và thương mại.

Từ cách nhìn về không gian phát triển mới, ông Phan Thanh Thiên cho hay, vùng nguyên liệu có thể được tổ chức theo quy mô lớn hơn; công nghiệp chế biến đặt ở những nơi có lợi thế về nguyên liệu, đất đai và hạ tầng; logistics kết nối với các đầu mối giao thông và cảng biển.

Khi các mắt xích được kết nối, doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi từ sản xuất, chế biến đến phân phối và xuất khẩu.

Đầu tư hạ tầng vì thế phải gắn với quy hoạch và tổ chức không gian kinh tế, để công trình phục vụ trực tiếp vùng sản xuất, khu chế biến, logistics và thị trường.

Giúp kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực

Từ phía cộng đồng doanh nghiệp, bà Nguyễn Thị Sen - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh, nhìn vấn đề ở những việc cụ thể. Cơ hội sau hợp nhất chỉ có ý nghĩa khi chuyển thành điều kiện kinh doanh thực tế.

Thị trường rộng hơn, nhưng doanh nghiệp vẫn phải tiếp cận được đất đai, hạ tầng, vốn, nhân lực và thị trường với chi phí hợp lý; điều họ cần là thông tin rõ ràng, quy trình minh bạch và thời gian xử lý có thể dự báo.

Một trong những điểm nghẽn là đất đai và thủ tục. Doanh nghiệp muốn đầu tư phải biết quy hoạch ở đâu, quỹ đất nào có thể tiếp cận, thủ tục gồm những gì và mất bao lâu.

Do đó, cần xây dựng cơ chế đầu mối để doanh nghiệp được hướng dẫn xuyên suốt đối với một dự án, đồng thời tiếp tục công khai, số hóa dữ liệu quy hoạch, quỹ đất và tiến độ xử lý hồ sơ.

Hạ tầng cũng cần gắn với hoạt động sản xuất. Bà Sen đề nghị ưu tiên các tuyến kết nối vùng nguyên liệu - cơ sở chế biến - khu công nghiệp - trung tâm logistics - thị trường, qua đó giúp doanh nghiệp giảm thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics và mở rộng thị trường. Doanh nghiệp sẽ bỏ vốn khi có thể tính toán tương đối rõ về quy hoạch, thủ tục, hạ tầng, thị trường và tính ổn định của chính sách.

Vốn và thị trường cũng là vấn đề doanh nghiệp nhỏ và vừa quan tâm, nhất là khi nhu cầu đầu tư công nghệ, nhà xưởng, chuyển đổi số, nâng chất lượng sản phẩm ngày càng lớn nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được yêu cầu về tài sản bảo đảm hoặc hồ sơ tín dụng.

Những yêu cầu từ thực tế doanh nghiệp cũng được đặt trong quá trình triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 16-KH/TU ngày 21-8-2025 thực hiện Nghị quyết trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch xác định 8 nhóm nhiệm vụ, trong đó có hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực; thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp.

Ở phía doanh nghiệp, các yêu cầu này gắn kết với nhau: Quy hoạch rõ giúp lựa chọn địa điểm; hạ tầng kết nối giúp giảm chi phí; thủ tục minh bạch giúp chủ động thời gian; còn vốn, nhân lực và thị trường quyết định khả năng triển khai, mở rộng hoạt động.

Với Gia Lai, quá trình này đang đặt ra đồng thời hai yêu cầu: Nhà nước tiếp tục hoàn thiện những nền tảng mà khu vực tư nhân khó tự tạo dựng, còn doanh nghiệp chủ động nâng năng lực để tham gia vào không gian kinh tế rộng hơn.

Doanh nghiệp đầu tàu thúc đẩy hệ sinh thái kinh tế

Không gian rộng hơn không tự tạo ra sức cạnh tranh. Với doanh nghiệp, cơ hội chỉ trở thành kết quả khi năng lực quản trị, công nghệ, sản phẩm, thị trường và khả năng tham gia chuỗi giá trị được nâng lên.

Với Gia Lai, yêu cầu không chỉ là có thêm doanh nghiệp mà còn phải có những doanh nghiệp đủ năng lực lớn lên, tạo giá trị và tham gia sâu hơn vào thị trường.

Lớn mạnh bằng năng lực

7 tháng của năm 2026, Gia Lai thu hút 178 dự án với tổng vốn hơn 167.185 tỷ đồng; có 2.366 doanh nghiệp thành lập mới, số vốn đăng ký tăng gần 3 lần so với cùng kỳ.

Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu thành lập 7.000 doanh nghiệp mới, gồm 3.200 doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh và 3.800 doanh nghiệp thu hút mới; khu vực kinh tế tư nhân được đặt mục tiêu tăng trưởng 10-10,5%.

 Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Ảnh: H.D

Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Ảnh: H.D

Với ông Phan Thanh Thiên - Tổng Giám đốc Trường Sinh Group, Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đây là những mục tiêu lớn, nhưng điều quan trọng hơn là phải nhìn vào chất lượng của số doanh nghiệp được hình thành.

“Trước hết, doanh nghiệp phải lớn lên về tư duy, chứ không nhất thiết chỉ lớn lên về quy mô. Nếu trước đây doanh nghiệp chỉ nghĩ đến thị trường trong tỉnh thì nay phải nghĩ đến thị trường toàn vùng, cả nước và quốc tế. Đặc biệt với nông nghiệp, cần chuyển từ “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất theo nhu cầu của thị trường”” - ông Thiên nói.

Một điển hình khác đến từ Công ty CP Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định (Bidiphar). Theo bà Phạm Thị Thanh Hương - Tổng Giám đốc Bidiphar, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng, nhưng quản trị mới là nền tảng để doanh nghiệp duy trì năng lực đó. Bidiphar lựa chọn đầu tư vào những công nghệ khó, từng bước phát triển các sản phẩm có giá trị cao hơn.

Năm 1992, doanh nghiệp sản xuất được thuốc tiêm kháng sinh; sau đó tiếp tục sản xuất dung dịch tiêm truyền acid amin, đa vitamin, ứng dụng công nghệ đông khô và đầu tư sản xuất thuốc điều trị ung thư.

Cùng với công nghệ, Bidiphar từng bước áp dụng các hệ thống quản lý và tiêu chuẩn như ISO 9001, ISO/IEC 17025, ISO 13485, tuân thủ các nguyên tắc GMP; triển khai ERP-SAP, hệ thống quản trị nguồn nhân lực, DMS, Power BI và từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị.

“Điều chúng tôi hướng tới không phải là có thật nhiều phần mềm, mà là biến dữ liệu thành một nguồn lực của doanh nghiệp. Khi thông tin được cập nhật và kết nối, các cấp quản lý có thể theo dõi hoạt động liên tục, nhận diện xu hướng sớm hơn và đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu thay vì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm” - bà Hương khẳng định.

 Ứng dụng công nghệ hiện đại trong dây chuyền sản xuất thuốc điều trị ung thư tại Bidiphar, hướng tới nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm dược. Ảnh: ĐVCC

Ứng dụng công nghệ hiện đại trong dây chuyền sản xuất thuốc điều trị ung thư tại Bidiphar, hướng tới nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm dược. Ảnh: ĐVCC

Đây cũng là hướng tỉnh Gia Lai đang cụ thể hóa trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Kế hoạch số 31-KH/TU ngày 26-1-2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW trên địa bàn tỉnh đặt mục tiêu năm 2026 kinh tế số đóng góp 18% GRDP, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng đạt 44%, cùng các nhiệm vụ thúc đẩy ứng dụng KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các ngành, lĩnh vực.

Chuyển dịch từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu

Với Gia Lai, câu chuyện nâng năng lực doanh nghiệp gắn khá rõ với nông nghiệp - lĩnh vực đang tạo nguồn hàng lớn cho xuất khẩu. 7 tháng của năm 2026, kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh ước đạt 2.353,98 triệu USD, tăng 2,7% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu đạt 654,58 triệu USD, tăng 15,4%. Riêng cà phê đạt khoảng 976,45 triệu USD, chiếm khoảng 41,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.

Những con số này cho thấy vị trí của nông sản trong xuất khẩu Gia Lai, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng phần giá trị tạo ra từ vùng nguyên liệu.

Ông Thái Như Hiệp - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam - cho rằng: Dư địa của nông nghiệp còn rất lớn, nhưng sản lượng nhiều chưa đồng nghĩa với giá trị lớn. Năm 2025, xuất khẩu nông - lâm - thủy sản của Việt Nam đạt khoảng 70,09 tỷ USD, trong đó cà phê đạt khoảng 8,6 tỷ USD, tăng 52,5% so với năm trước.

Vấn đề không chỉ là sản xuất và xuất khẩu nguyên liệu mà phải tham gia sâu hơn vào chế biến, xây dựng thương hiệu và những công đoạn có giá trị cao.

 Kho tập kết cà phê phục vụ xuất khẩu của Công ty TNHH Vĩnh Hiệp tại Khu công nghiệp Trà Đa, phường Pleiku. Ảnh: H.D

Kho tập kết cà phê phục vụ xuất khẩu của Công ty TNHH Vĩnh Hiệp tại Khu công nghiệp Trà Đa, phường Pleiku. Ảnh: H.D

“Mục tiêu lâu dài là làm sao mỗi tấn cà phê tạo ra nhiều giá trị hơn trước khi đến tay người tiêu dùng. Điều đó đòi hỏi phải đẩy mạnh chế biến sâu, công nghệ, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường” - ông Hiệp nói.

Từ thực tế Vĩnh Hiệp, doanh nghiệp đang chuẩn bị chuỗi dự án trọng điểm với tổng vốn dự kiến khoảng 18.800 tỷ đồng, gồm nhà máy chế biến sâu, cụm kho trung chuyển, trung tâm nghiên cứu AI nông nghiệp và du lịch trải nghiệm.

Một dự án, nhiều giá trị lan tỏa

Một dự án chế biến đi vào hoạt động không chỉ tạo ra sản phẩm cuối cùng mà còn có thể kéo theo nhiều hoạt động kinh tế khác.

Theo ông Thái Như Hiệp - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, khi nhà máy vận hành, yêu cầu về chất lượng vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn sản xuất và truy xuất nguồn gốc cũng được nâng lên.

Từ đó, cơ hội mở rộng sang các doanh nghiệp cung ứng, logistics, bao bì, cơ khí, dịch vụ và nhân lực. Người nông dân có thêm đầu ra khi đáp ứng yêu cầu của chuỗi; doanh nghiệp cung ứng có thêm thị trường; địa phương có điều kiện hình thành các mắt xích sản xuất, dịch vụ gắn với ngành hàng.

“Một dự án vì thế không chỉ tạo ra một nhà máy mà có thể hình thành cả một hệ sinh thái kinh tế” - ông Hiệp chia sẻ.

Theo ông Hiệp, đầu tư chế biến không chỉ tạo ra sản phẩm mới mà còn kéo theo yêu cầu nâng cấp vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn sản xuất, truy xuất nguồn gốc, kho bãi, logistics, bao bì, thương hiệu và nhân lực.

Ở cấp độ địa phương, yêu cầu này cũng đang được đặt ra trong điều hành sản xuất, xuất khẩu.

Tại hội nghị đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng năm 2026, tỉnh yêu cầu tiếp tục phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với doanh nghiệp chế biến; tăng cường liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ; chú trọng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Cùng với đó, Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong giai đoạn 2026-2030 được tỉnh đặt ra theo hướng lựa chọn những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và khả năng dẫn dắt ngành, lĩnh vực.

Theo ông Thái Như Hiệp, doanh nghiệp đầu tàu không đơn thuần là doanh nghiệp có doanh thu lớn mà phải dám đầu tư vào những lĩnh vực người khác chưa dám làm, thử nghiệm công nghệ mới, mở thị trường mới và xây dựng tiêu chuẩn mới.

Từ vùng nguyên liệu đến nhà máy, từ sản phẩm đến thị trường, doanh nghiệp Gia Lai phải nâng chất lượng và giá trị ở từng công đoạn để tham gia sâu hơn vào chuỗi.

HÀ DUY

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/ket-noi-cac-nguon-luc-hinh-thanh-chuoi-gia-tri-moi-post596452.html