Kết nối dữ liệu, đánh thức tiềm năng di sản

Từ yêu cầu xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia đến những thử nghiệm kết nối bảo tàng ở TPHCM, câu chuyện không dừng ở số hóa bao nhiêu hiện vật, mà quan trọng là làm thế nào để dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông, sống cùng công chúng. Qua đó góp phần kể câu chuyện Việt Nam một cách chính xác trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI).

Không chỉ là số hóa

Ngày nay, một người trẻ có thể đứng trước một hiện vật hàng trăm năm tuổi và chỉ mất vài giây dùng điện thoại để tìm kiếm thông tin. Nhưng giữa việc “có thông tin” và “có một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy” là khoảng cách rất lớn.

 Các bạn trẻ tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác Tôn tại Bảo tàng Tôn Đức Thắng. Ảnh: DŨNG PHƯƠNG

Các bạn trẻ tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác Tôn tại Bảo tàng Tôn Đức Thắng. Ảnh: DŨNG PHƯƠNG

Một hiện vật được chụp ảnh, quét 3D đưa lên nền tảng số mới chỉ là bước đầu. Đằng sau đó phải là câu chuyện về nguồn gốc, niên đại, bối cảnh, hồ sơ khoa học, quá trình sưu tầm, thẩm quyền xác thực và khả năng liên kết với những dữ liệu khác. Nếu thiếu những lớp thông tin ấy, số hóa có thể chỉ tạo ra những “kho dữ liệu” rời rạc thay vì một hạ tầng tri thức có khả năng phục vụ lâu dài.

Chính vì vậy, nhu cầu thiết lập một Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài đã đặt vấn đề số hóa trong một tầm nhìn rộng hơn: xây dựng một hệ thống hạ tầng dữ liệu cho văn hóa quốc gia. Trong đó, các dữ liệu lịch sử, văn hóa, di sản phải được coi là bộ phận cốt lõi của hạ tầng văn hóa.

Là đơn vị chủ đạo trong việc xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, Bộ VH-TT-DL đã công bố kế hoạch, lộ trình để đưa kho dữ liệu vào thực tế. Theo đó, từ nay đến hết năm 2026, Bộ VH-TT-DL tập trung đánh giá thực chất các chương trình số hóa hiện có, nhận diện những phần trùng lắp, phân tán, không tương thích hoặc chưa có quy chuẩn chung. Từ năm 2027, bộ hướng tới khai thác kho dữ liệu văn hóa số đồng bộ, liên thông trên toàn quốc, trước hết tại các bảo tàng quốc gia, bảo tàng lớn, cơ quan lưu trữ và một số địa phương có điều kiện.

Điểm quan trọng của Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia là mỗi hiện vật khi đưa vào kho phải có định danh thống nhất, thông tin về nguồn gốc, hồ sơ khoa học và dữ liệu số tương ứng. Di tích, tài liệu, bộ sưu tập cũng từng bước được quản lý theo dữ liệu logic về nguồn gốc, bối cảnh, xác thực, truy xuất và liên kết. Đó là cách chuyển từ tư duy “lưu trữ số” sang “quản trị tri thức”.

Hướng tới hệ sinh thái di sản

Theo Phòng Di sản văn hóa, Sở VH-TT TPHCM, thành phố hiện có 25 bảo tàng với gần 693.000 hiện vật, tài liệu; trong đó có khoảng 296.000 hiện vật gốc và 25 bảo vật quốc gia. Đây là nguồn tài nguyên văn hóa lớn, trải rộng từ lịch sử đô thị, văn hóa Nam bộ, văn hóa biển đến các ngành nghề thủ công và quá trình giao lưu quốc tế của vùng đất phương Nam. Giai đoạn 2021-2025, các bảo tàng trên địa bàn thành phố đã sưu tầm hơn 18.400 hiện vật, tài liệu, hình ảnh; đón hơn 13,4 triệu lượt khách, trong đó gần 4 triệu lượt khách quốc tế... Những con số này cho thấy bảo tàng đã trở thành một phần đáng kể của đời sống văn hóa và du lịch đô thị.

Tuy nhiên, một hệ thống dữ liệu lớn không đồng nghĩa với một hệ thống đã được kết nối. TS Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học lịch sử TPHCM, cho biết, các bảo tàng hiện còn vận hành tương đối độc lập, thiếu một cấu trúc đủ mạnh để kể câu chuyện tổng thể về lịch sử và văn hóa của toàn vùng đô thị.

Không gian văn hóa sống thay vì “nhà kho hiện vật”

Theo TS Nguyễn Thị Tú Anh, giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM), bảo tàng hiện đại cần được nhìn nhận là thiết chế văn hóa đa chức năng. Ngoài nhiệm vụ bảo tồn, bảo tàng còn tham gia giáo dục cộng đồng, xây dựng bản sắc đô thị, phát triển công nghiệp văn hóa và thúc đẩy sáng tạo. Với TPHCM, mục tiêu dài hạn bên cạnh việc có thêm nhiều bảo tàng, còn cần hình thành một hệ sinh thái văn hóa mở, nơi mỗi bảo tàng trở thành một “điểm nút” trong mạng lưới di sản, du lịch và sáng tạo của đô thị.

Theo TS Nguyễn Thị Hậu, TPHCM cần hình thành một hệ sinh thái bảo tàng, trong đó bảo tàng công lập, ngoài công lập, di tích lịch sử và không gian văn hóa cộng đồng cùng tham gia, tạo nên mạng lưới trải nghiệm thống nhất. Đơn cử, thử nghiệm “Hộ chiếu di sản” giữa Bảo tàng Phở, Bảo tàng TPHCM và Bảo tàng Chứng tích chiến tranh là một ví dụ sinh động. Ba bảo tàng này được xây dựng thành một hành trình trải nghiệm với 3 chương: sự kiên cường qua lịch sử đấu tranh; dấu ấn hơn 3 thế kỷ của vùng đất và bản sắc văn hóa ẩm thực.

Từ đây có thể hình dung rộng hơn: một hiện vật trong bảo tàng có thể liên kết với một di tích; một nhân vật lịch sử có thể mở ra một không gian ký ức; một nghề truyền thống có thể kết nối với nghệ nhân, sản phẩm, điểm tham quan trải nghiệm và hoạt động giáo dục. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, những kết nối ấy không còn phụ thuộc hoàn toàn vào trí nhớ hay khả năng tự tìm kiếm của từng du khách.

THIÊN THANH

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/ket-noi-du-lieu-danh-thuc-tiem-nang-di-san-post869202.html