Kết nối với khu vực FDI ít cải thiện, Việt Nam cần làm gì để nâng giá trị nội địa?

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào sản xuất vẫn đang tích cực nhưng kết nối doanh nghiệp ngoại và nội vẫn "lỏng lẻo". Để thúc đẩy tăng trưởng, nền kinh tế Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang năng suất, đổi mới sáng tạo và nâng cao giá trị nội lực.

Việt Nam cần nâng cao giá trị nội lực - Ảnh minh họa

Việt Nam cần nâng cao giá trị nội lực - Ảnh minh họa

Từ lợi thế FDI đến bài toán nâng giá trị nội lực

Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua đã tạo ra những thành quả đáng kể, song đồng thời cũng bộc lộ giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và gia công.

GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, cho rằng Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng khi lợi ích năng suất từ quá trình chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo và dịch vụ có xu hướng suy giảm rõ rệt sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Đáng chú ý, thị phần xuất khẩu sản phẩm chế tạo của Việt Nam trên thế giới đã tăng gần 4 lần trong 30 năm, vượt Malaysia từ năm 2017 để vươn lên dẫn đầu ASEAN. Tuy nhiên, nếu xét về tỷ trọng giá trị gia tăng được tạo ra trong nước, mức bứt phá vẫn chưa tương xứng.

Theo GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài, thực trạng này cho thấy tính chất "nền kinh tế nhị nguyên" ngày càng rõ nét: Khu vực FDI tăng trưởng mạnh nhưng còn tương đối tách biệt với khu vực doanh nghiệp trong nước, chủ yếu tập trung vào gia công, lắp ráp và chưa trở thành chất xúc tác đủ mạnh để lan tỏa công nghệ, tri thức tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).

Trong khi đó, tại các ngành có thể thương mại, tốc độ tăng giá trị gia tăng và việc làm giai đoạn 2010-2023 lại chậm hơn khu vực phi thương mại. Điều này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận tăng trưởng, từ khai thác lợi thế sẵn có sang nâng cao năng suất và năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Từ những phân tích trên, GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài đưa ra hai kịch bản cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2024-2050.

Với kịch bản “Tiếp tục như hiện nay”, nếu không có những cải cách thể chế và mô hình tăng trưởng mạnh mẽ, GDP bình quân giai đoạn 2024-2050 chỉ tăng khoảng 4,0%/năm. Trong đó, chất lượng lao động đóng góp 0,2%, vốn CNTT 0,3%, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) 0,2% và vốn phi CNTT 3,1%. Kịch bản này tiềm ẩn nguy cơ Việt Nam rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.

Ngược lại, kịch bản “Cải cách” có thể đưa tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2024–2050 lên 7,7%/năm. Động lực tăng trưởng khi đó đến từ TFP với mức đóng góp 2,0%, chất lượng lao động 0,5%, vốn CNTT 0,6% và vốn phi CNTT 4,3%. Theo chuyên gia, đây là con đường quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Để hiện thực hóa kịch bản cải cách, GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài đề xuất chuyển từ mô hình “1i” - Investment, tức tập trung vào đầu tư - sang mô hình “3i”. Trong đó, đầu tư vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng cần thay đổi trọng tâm, từ thu hút vốn đơn thuần sang thu hút dòng vốn chất lượng cao, có khả năng tạo liên kết và lan tỏa công nghệ từ khu vực FDI sang SME trong nước. Tiếp thu, thẩm thấu công nghệ yêu cầu nâng cao năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp nội địa thông qua nâng cấp hạ tầng số, quy trình sản xuất và năng lực quản trị.

Cuối cùng, Đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực cốt lõi, thúc đẩy R&D, gia tăng giá trị tạo ra trong nước và giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào những công đoạn có hàm lượng tri thức cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Mở rộng không gian tăng trưởng bằng nội lực

Để mô hình “3i” trở thành động lực tăng trưởng thực chất, GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài cho rằng, chính sách phát triển cần tập trung vào 5 trụ cột, trong đó STEM (Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học) phải trở thành trung tâm phát triển nguồn nhân lực, nâng khả năng hấp thụ công nghệ và hình thành năng lực sản xuất sản phẩm “Made by Vietnam”.

Theo ông Hoài, Việt Nam cần thúc đẩy liên kết ba nhà giữa đại học - doanh nghiệp FDI/SME - Nhà nước trong đào tạo nhân lực cho các công nghệ cốt lõi và AI; đồng thời đổi mới cơ chế tài trợ R&D, gắn mục tiêu nâng năng suất quốc gia với hoạt động nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Một hướng đi quan trọng khác là mở rộng xuất khẩu dịch vụ có giá trị gia tăng. Hiện tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ giá trị gia tăng trong nước chỉ đạt 9,5% tổng xuất khẩu, thấp hơn đáng kể mức trung bình 26,0% của ASEAN và 39,2% của OECD. Khoảng cách này cho thấy dư địa lớn để Việt Nam nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho biết, để mở rộng không gian tăng trưởng từ nội lực trong năm 2026, Việt Nam cần chuyển từ mô hình dựa nhiều vào mở rộng tín dụng và đầu tư thâm dụng vốn sang nâng cao năng suất và sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Theo ông Lực, năng suất lao động và năng suất nhân tố tổng hợp cần trở thành những thước đo quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Đây là nền tảng để nâng chất lượng tăng trưởng và tạo dư địa phát triển bền vững, thay vì phụ thuộc vào việc liên tục mở rộng quy mô vốn và tín dụng.

Cùng với đột phá về năng suất, Việt Nam cần cơ cấu lại nguồn lực tài chính. Hệ thống ngân hàng hiện vẫn giữ vai trò lớn trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, khiến tăng trưởng chịu áp lực phụ thuộc đáng kể vào tín dụng.

TS. Cấn Văn Lực đề xuất phát triển mạnh thị trường vốn, nhất là thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp, qua đó huy động hiệu quả nguồn vốn dài hạn trong dân cư và các tổ chức đầu tư trong nước. Đa dạng hóa kênh dẫn vốn sẽ giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng, đồng thời tạo thêm dư địa cho tăng trưởng an toàn, bền vững.

TS. Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội nhìn nhận dư địa thể chế là một trong những nguồn nội lực lớn nhất của Việt Nam hiện nay. Nhiều nguồn vốn trong dân, tài sản công và nguồn lực xã hội vẫn chưa được khai thác hiệu quả do vướng mắc pháp lý và thủ tục hành chính.

Theo ông Cường, yêu cầu cấp thiết là tiếp tục cởi trói thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn để dòng vốn được khơi thông và chuyển hóa thành năng lực sản xuất, kinh doanh. Trọng tâm là giải quyết vướng mắc trong giải ngân đầu tư công, các dự án đất đai, năng lượng và những lĩnh vực đang có nguồn lực nhưng chưa thể phát huy.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần kiến tạo những không gian tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế ngầm (đô thị), kinh tế tuần hoàn và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Việc xây dựng hành lang pháp lý thử nghiệm (sandbox) sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn khai phá các mô hình kinh doanh mới.

Hải Yến

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/ket-noi-voi-khu-vuc-fdi-it-cai-thien-viet-nam-can-lam-gi-de-nang-gia-tri-noi-dia-186726.html