Khách tử vong sau hơn 2 tháng ký hợp đồng, công ty bảo hiểm từ chối chi trả
Người được bảo hiểm tử vong do điện giật hơn 2 tháng sau khi hợp đồng được ký. Công ty bảo hiểm từ chối chi trả nhưng bị tòa buộc thanh toán hơn 1,2 tỷ đồng.
Người được bảo hiểm tử vong, doanh nghiệp từ chối chi trả
Ngày 4/6/2020, Hợp tác xã L. ở Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long) ký hợp đồng bảo hiểm với Công ty TNHH B. Theo hợp đồng, bên mua bảo hiểm là hợp tác xã; người được bảo hiểm là bà Đoàn Thị N., người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm sau đó được điều chỉnh là ông Lê Văn C. Sản phẩm bảo hiểm P. với số tiền bảo hiểm 1 tỷ đồng.
Hơn 2 tháng sau khi hợp đồng được ký, bà N. gặp tai nạn và tử vong. Theo trích lục khai tử ngày 10/8/2020, bà N. tử vong do điện giật.
Với tư cách là người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm, ông C. làm đơn yêu cầu Công ty B. giải quyết quyền lợi theo hợp đồng bảo hiểm.
Tuy nhiên, ngày 13/10/2020, Công ty B. có văn bản trả lời từ chối giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho ông C. Không đồng ý với việc từ chối này, ông C. khởi kiện, yêu cầu Công ty B. chi trả 1 tỷ đồng tiền bảo hiểm theo hợp đồng.
Ngoài ra, ông C. còn yêu cầu tính 290,5 triệu đồng tiền lãi do chậm giải quyết, chi trả quyền lợi bảo hiểm, tính từ ngày 13/10/2020 đến ngày 19/9/2023, theo lãi suất 0,83%/tháng. Tổng số tiền ông C. yêu cầu Công ty B. thanh toán là gần 1,3 tỷ đồng.

Tử vong sau hơn 2 tháng mua bảo hiểm, người thụ hưởng nhận hơn 1,2 tỷ đồng sau khi bị doanh nghiệp bảo hiểm từ chối. Ảnh minh họa: Nam Khánh
Công ty B. không đồng ý chi trả và có yêu cầu phản tố, đề nghị tuyên hợp đồng bảo hiểm vô hiệu.
Công ty B. cho rằng, tại thời điểm các bên ký hợp đồng, trong danh sách thành viên do hợp tác xã cung cấp không có tên bà N. Do không có chứng từ phù hợp thể hiện bà N. là xã viên của hợp tác xã, Công ty B. cho rằng hợp đồng bảo hiểm không có cơ sở để tiếp tục thực hiện và đề nghị tuyên vô hiệu.
Về việc từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm, Công ty B. cho biết, ông C. không cung cấp biên bản khám nghiệm tử thi và biên bản kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền để xác định nguyên nhân tử vong của bà N. nên không có cơ sở giải quyết quyền lợi bảo hiểm.
Không đồng ý với yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu, ông C. cho rằng, khi mua bảo hiểm, hợp tác xã đã cung cấp đầy đủ thông tin và tài liệu xác nhận bà N. là xã viên. Công ty B. đã thẩm định thông tin trước khi bán sản phẩm bảo hiểm nên việc yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu là không có cơ sở.
Hợp tác xã cũng khẳng định bà N. là thành viên hợp tác xã nhiệm kỳ 2019-2023, tham gia từ ngày 1/6/2019. Việc đăng ký thành viên đối với bà N. được thực hiện đúng quy định và đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông C.
Công ty bảo hiểm phải trả hơn 1,2 tỷ đồng
Bản án sơ thẩm của TAND Quận 1, TPHCM chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C., buộc Công ty B. phải thanh toán 1 tỷ đồng tiền bảo hiểm và 290,5 triệu đồng tiền lãi tính đến ngày 19/9/2023.
Cấp sơ thẩm cũng không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty B. về việc tuyên hợp đồng bảo hiểm vô hiệu.
Không đồng ý, Công ty B. kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án theo hướng bác toàn bộ yêu cầu của ông C.
Tại phiên phúc thẩm, Công ty B. còn đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.
Liên quan đến tư cách thành viên hợp tác xã của bà N., HĐXX phúc thẩm cho rằng, theo hồ sơ, hợp đồng bảo hiểm được ký ngày 4/6/2020, bên mua bảo hiểm là Hợp tác xã L. Công ty B. đã có thư xác nhận việc hồ sơ tham gia bảo hiểm nhân thọ của bà N. được hoàn tất thẩm định và chấp thuận bảo hiểm, kèm theo hợp đồng bảo hiểm.
Nghị quyết của Đại hội thành viên hợp tác xã nhiệm kỳ 2019-2023 và các tài liệu kèm theo đã thể hiện hợp tác xã có 61 thành viên, trong đó có bà N. Từ đó, HĐXX phúc thẩm xác định có đủ cơ sở cho thấy bà N. là thành viên của Hợp tác xã L. trong nhiệm kỳ 2019-2023.
Hơn nữa, trước khi ký hợp đồng, Công ty B. đã tự thẩm định hồ sơ, sau đó có văn bản chấp thuận bảo hiểm và thực hiện thu phí bảo hiểm định kỳ với bên mua bảo hiểm.
Vì vậy, khi giải quyết quyền lợi bảo hiểm, việc Công ty B. đưa lý do bà N. không phải người được bảo hiểm để từ chối chi trả là không phù hợp với thực tế và không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với lý do ông C. không cung cấp biên bản khám nghiệm tử thi và kết luận điều tra, HĐXX phúc thẩm cũng không chấp nhận lập luận của Công ty B.
Theo bản án, trích lục khai tử ghi nguyên nhân bà N.. chết là do bị điện giật. Biên bản hiện trường của cơ quan điều tra cũng ghi nhận việc xem xét dấu vết sơ bộ trên tử thi không phát hiện dấu vết gì.
HĐXX nhận định không có dấu hiệu nào để nghi ngờ về nguyên nhân khác hoặc có tác động từ nguyên nhân khác dẫn đến cái chết của bà N. Do đó, có cơ sở xác định bà N. tử vong do điện giật và đây là một vụ tai nạn.
Tòa án cũng xem xét các quy định trong hợp đồng về hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi. Theo HĐXX, trường hợp người được bảo hiểm tử vong do tai nạn, hồ sơ buộc phải cung cấp chỉ gồm giấy chứng tử hoặc giấy báo tử. Biên bản điều tra, kết luận điều tra của cơ quan công an được quy định là giấy tờ “nếu có”, không bắt buộc.
Tài liệu hướng dẫn kèm hợp đồng cũng quy định chứng từ bắt buộc đối với trường hợp tử vong là giấy báo tử hoặc giấy chứng tử, không yêu cầu bắt buộc phải có kết luận điều tra, biên bản giám định hoặc khám nghiệm tử thi.
Do đó, HĐXX phúc thẩm cho rằng bản án sơ thẩm phù hợp với nội dung hợp đồng và quy định pháp luật, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo hoặc yêu cầu hủy án của Công ty B. Tòa quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc Công ty B. thanh toán cho ông C. 1 tỷ đồng tiền bảo hiểm và 290,5 triệu đồng tiền lãi tính đến ngày 19/9/2023.
(Bài viết dựa trên Bản án số 236/2024/DS-PT ngày 26/3/2024 của TAND TPHCM)
