Khai quật tàu đắm Bình Châu - những khoang đồ và dấu vết lịch sử

Như đã nói sơ qua trong bài trước, việc đầu tiên đối với một nhà khảo cổ khi nghiên cứu đối tượng con tàu đắm Bình Châu là phải xác định thời điểm tàu đắm, cũng tức là niên đại con thuyền, niên đại đồ đạc chứa trong tàu và niên đại của hiện tượng đắm tàu tại vịnh Châu Thuận Biển này.

1. Ngay trong ngày đầu tiên, khi những thợ hút bùn đưa lên một số đồ vật trên bề mặt boong tàu, có vẻ như thuộc về thương nhân hoặc đồ dùng của thuyền trưởng, thuyền viên, gồm mấy bát men xanh sớm cỡ nhỏ, một ấm đựng rượu chưng cất loại nhỏ có men phủ hoa văn da báo, một bát hương hình trụ lùn, ba chân thấp, men xanh nõn chuối đục… nhóm chuyên gia chúng tôi đã thống nhất khung niên đại gốm đời Nguyên, khoảng cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14 cho những đồ sành sứ đó.

Bản vẽ kỹ thuật con tàu đắm Bình Châu do TS Nguyễn Việt thực hiện

Bản vẽ kỹ thuật con tàu đắm Bình Châu do TS Nguyễn Việt thực hiện

Niên đại này trùng với nhận định của nhiều nhà sưu tầm khi mua được những đồ sứ "Yuan" do dân chài vớt từ tàu này trước khi khai quật. Trong quá trình khai quật, chúng tôi còn vớt được một số tiền đồng nhà Nguyên, đầu thế kỷ 14, và nhất là khi tôi trực tiếp nghiên cứu một quả cân đồng gỉ bao bọc xung quanh, mà thoạt đầu được hiểu nhầm là tượng Quan Âm Bồ Tát, thì vấn đề niên đại cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14 càng được khẳng định thêm.

"Lần đầu tiên cho đến khi đó, chúng ta có được bản vẽ và ảnh chụp tương đối chi tiết về một con tàu đắm, vị trí khoang đồ và gom nhặt được 80% những gì còn lại trong nó" - TS Nguyễn Việt.

Do tính chất "chữa cháy", cuộc khai quật của chúng tôi không chủ động được thời gian, nên giông bão đầu Hè cộng với triều cường khiến công trường phải gấp rút chạy đua với tiến độ khai quật. Vì lý do đó, rất nhiều yêu cầu của khai quật khảo cổ học đã không thể thực hiện được. Chúng tôi chỉ có thể định vị được vị trí các khoang chứa đồ để có thể moi lấy đồ đưa vào các thùng xốp một cách tương đối chính xác, giúp cho công việc chỉnh lý sau này. Yêu cầu hút cạn nước trong vài giờ của tôi để đủ thời gian quan sát vị trí nơi ở, bếp núc của thương đoàn và thuyền viên… đã không thực hiện được.

Gấp gáp phun tẩy bùn và hút nước bơm ra ngoài kè, gấp gáp quay video và chụp ảnh ghi hình quá trình khai quật, thu gom hiện vật trên bề mặt và trong các khoang, gấp gáp đo, vẽ, ghi chép từng chi tiết khi hiện trường xuất lộ. Cuộc khai quật chạy đua với tiến độ từng ngày

Gấp gáp phun tẩy bùn và hút nước bơm ra ngoài kè, gấp gáp quay video và chụp ảnh ghi hình quá trình khai quật, thu gom hiện vật trên bề mặt và trong các khoang, gấp gáp đo, vẽ, ghi chép từng chi tiết khi hiện trường xuất lộ. Cuộc khai quật chạy đua với tiến độ từng ngày

2. Theo ghi nhận của tôi, đây là loại thuyền biển đóng theo kiểu có một trục long cốt chắc chắn và hệ xương sườn tạo thành các khoang kín. Toàn bộ thuyền dài hiện đo được là 21,5m, lòng thuyền chia thành 12 khoang tương đối đều nhau, đánh số từ mũi thuyền đến bánh lái.

Khoang số 1 và 2 (mũi thuyền) và khoang 12 (bánh lái) là những phần kỹ thuật chuyên biệt không dùng để chứa hàng hay người ở. Hai khoang số 3 và số 7 phát hiện hai bệ đỡ cột buồm làm bằng phiến gỗ lớn, ngoàm chặt vuông góc với long cốt. Phần đầu thuyền từ khoang 3 xuất hiện cấu kiện giằng đỡ mũi thuyền. Khoang cuối là khoang 12 liên kết với nhiều khối gỗ lớn ghép thành bệ đỡ vững chắc cho chiếc bánh lái có trục dài ba mét và đường kính khoảng 20cm.

Ghi nhận nhật ký khai quật bằng hình, ngày 21-6-2013, các khoang trung tâm số 5, 6, 7, 8 - trích từ báo cáo trình bày PowerPoint của tác giả tại Hội nghị Khảo cổ học Đông Nam Á ở Poznan (Ba Lan) năm 2017

Ghi nhận nhật ký khai quật bằng hình, ngày 21-6-2013, các khoang trung tâm số 5, 6, 7, 8 - trích từ báo cáo trình bày PowerPoint của tác giả tại Hội nghị Khảo cổ học Đông Nam Á ở Poznan (Ba Lan) năm 2017

Xương thuyền là những thanh gỗ liên kết từ long cốt vươn lên, như xương sườn của cá. Các xương này thường làm thành cặp đôi, chế từ các đoạn cây, cành gỗ tự nhiên, được đẽo gọt cho đủ tạo mặt phẳng gắn mạn thuyền và khe đặt ván ngăn tạo khoang thuyền dày 8-10cm. Mạn thuyền là những tấm ván gỗ thông rộng khoảng 30cm, dày 6-8cm, dài 4-6m. Những yếu tố kỹ thuật trọng yếu của con tàu như bánh lái, bệ đỡ cột buồm, ngoàm đỡ mũi… sẽ được tôi mô tả chi tiết hơn trong các bài sau.

Do phải gấp gáp đối phó với thời gian, thời tiết, hoạt động thu gom đồ trong các khoang và hoạt động khảo cổ học đôi khi bị chồng chéo, mâu thuẫn. Đây là bài học rất lớn, khi chủ đầu tư là công ty Ánh Dương phải cân đối giữa kinh phí đầu tư và tiến độ, trong khi nhiệm vụ nghiên cứu khảo cổ học cần ghi chép và quan sát chi tiết, cụ thể hiện trường khai quật. Kết quả là các nhà khảo cổ phải chạy theo tiến độ…

Tuy vậy, đối với tôi cũng như với nền khảo cổ học tàu thuyền Việt Nam, cơ hội khai quật được như ở tàu đắm Bình Châu là vô cùng quý giá. Lần đầu tiên cho đến khi đó, chúng ta có được bản vẽ và ảnh chụp tương đối chi tiết về một con tàu đắm, vị trí khoang đồ và gom nhặt được 80% những gì còn lại trong con tàu đắm đó.

Từ những gì còn lại trong các khoang chứa đồ, chúng ta có thể hình dung được một quá trình, từ khi con tàu được xếp hàng từ các kho, lò gốm sứ trải ven biển Nam Trung Hoa đến Vịnh Bắc Bộ nước ta, phân bố các loại gốm sứ trong các khoang đồ, dấu tích của thương lái… cho đến khi con tàu bị cháy và chìm trong vịnh Châu Thuận Biển.

Hẹn gặp lại các bạn về chủ đề này trong những thứ Năm tuần tiếp.

(còn tiếp)

TS Nguyễn Việt

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/khai-quat-tau-dam-binh-chau-nhung-khoang-do-va-dau-vet-lich-su-20260521060438604.htm