Khai quật tàu đắm Bình Châu - thuyền gỗ và xưởng thuyền
Phần còn lại của con tàu buôn thế kỷ 13/14 bị đắm mà chúng tôi khai quật ở ngư vịnh Châu Thuận Biển tháng 6/2013 còn khá nguyên vẹn, cho phép phục dựng những nét cơ bản của kỹ thuật đóng tàu đương thời. Trong lịch sử khảo cổ học dưới nước nói chung và khảo cổ học tàu thuyền nói riêng của Việt Nam thì đây là trường hợp gần như duy nhất xác tàu đắm được nghiên cứu tỉ mỉ như vậy.
1. Sau này, ngay cả con tàu thế kỷ 18 - 19 còn khá nguyên vẹn vớt ở đoạn sông Hồng thuộc địa phận Khoái Châu, Hưng Yên, cũng như hai thân phao hình thuyền vừa phát hiện và khai quật trong lòng sông Dâu cổ thuộc Hà Mãn, Thuận Thành, Bắc Ninh cũng chưa được nghiên cứu kỹ đến thế.
Tôi xin đưa lại trong bài này hình vẽ mặt bằng và mặt cắt phần còn lại của con thuyền đã được phục dựng, để bạn đọc dễ theo dõi.

Mặt bằng (hình trên) và mặt cắt (hình dưới) thuyền thế kỷ 13 - 14 bị đắm ở Châu Thuận Biển
Về mặt cấu trúc, tỷ lệ chiều dài trên rộng ngang con thuyền, khoảng bốn lần, đã khẳng định đây thuộc loại thuyền đi biển (hải thuyền). Thuyền này được đóng bằng kỹ thuật long cốt (keeling) có chia khoang. Long cốt là cây gỗ lớn được chọn từ loại gỗ bền chắc nhất, thường là gỗ lim. Long cốt nằm chính giữa đáy. Phần đầu mũi sẽ được nối ngoàm để vươn cao lên. Gắn chắc với long cốt là hai đế cột buồm và các ngoàm xương đỡ vách ngăn.
Con thuyền đếm được 11 vách ngăn. Chúng được tạo ra bằng cách dựng những cặp xương sườn thuyền từ long cốt cao dần lên đến mạn thuyền, ước tính ở độ cao gần 4m. Nếu kể cả khoang bánh lái, chúng tôi đếm được 12 khoang, mỗi khoang sau khi chừa ra độ dày của vách ngăn còn rộng khoảng 160cm. Quan sát các xưởng thuyền cổ truyền hiện còn, thì các xương thuyền cao đến đâu sẽ được đóng ghép ốp các ván mạn bằng đinh sắt và đinh tre đến đó. Các tấm vách ngăn khoang cũng được đặt vào ngay, giữa các khe của hai cặp xương đã chờ sẵn.

Vách ngăn các khoang thuyền chứa đồ hiện ra sau khi hút cạn nước biển trong ô kè (hình trái) và chi tiết liên kết hệ xương thuyền với các ván vách ngăn (hình phải)
So với các thuyền cùng thời khai quật được ở Trung Quốc (thuyền Tuyền Châu hay thuyền Hải Nam), ở Hàn Quốc, Nhật Bản (tàu Shinan)… thì các xương thuyền làm chỗ dựa cho liên kết mạn thuyền và vách ngăn khoang được gia công khá cẩu thả, chỉ cần đảm bảo độ phẳng tiếp xúc với mạn thuyền. Đa số phần thân gỗ còn lại không được đẽo gọt tỉ mỉ. Các tấm vách ngăn cũng thô dày, dao động khoảng từ 8-12cm. Để đảm bảo vách ngăn vững chãi, thợ đóng thuyền còn tạo thêm hai cặp đỡ hình chữ V từ long cốt chạy lên. Các khoang đáy ngăn cách với nhau khá kín, chỉ thông nhau bằng một lỗ ở giáp long cốt.
2. Kỹ thuật đóng thuyền có vách ngăn được cho là một sáng chế của các xưởng thuyền Giao Châu dưới thời cai quản của Lư Tuần (thế kỷ 4 - 5 sau Công nguyên). Có thể gộp nhận trong kỹ thuật đóng thuyền biển của Vịnh Bắc Bộ đương thời. Những vách ngăn được sáng chế sẽ giúp ngăn nước vào lòng thuyền khi gặp sự cố ở mạn thuyền. Các thủy thủ có thể cách ly khoang ngập để tát nước ra, khiến con thuyền vẫn có thể nổi để di chuyển về nơi cứu nạn.

Đồ được lấy ra từ các khoang đáy còn lại
Hai phao thuyền khai quật ở Hà Mãn, Thuận Thành, Bắc Ninh đã mở ra tiền đề tạo vách ngăn như vậy từ niên đại Đông Sơn muộn, khoảng thế kỷ 2 -3 sau Công nguyên. Tất nhiên, vách ngăn trên hai phao thuyền Hà Mãn chỉ đảm nhiệm chức năng liên kết hai bên ván mạn chứ không nhằm mục đích ngăn nước giữa các khoang, nhưng từ dạng vách ngăn Hà Mãn đến kỹ thuật đóng thuyền có long cốt và vách ngăn kín thời Lư Tuần chỉ là một bước rất ngắn.
Hàng hóa gốm sứ của các thương lái đều xếp nằm nghiêng "úp thìa" trong các khoang này. Chúng được chèn kỹ bằng rơm, cỏ khô trong suốt hành trình. Một vài mẫu gỗ của thuyền này đã được tôi lấy gửi phân tích tại Viện Nghiên cứu Gỗ thuộc Đại học Bách khoa Dresden (Đức). Các xương thuyền được làm từ gỗ táu và các ván mạn làm từ gỗ một loài thông phương nam. Ván mạn được đóng thành hai lớp so le nhau tạo thành tàu dày hơn 10cm và dễ chèn kín, không để nước thấm vào trong khoang. Do khuôn khổ trang viết, tôi sẽ nói kỹ về hệ ván mạn này trong bài sau, cùng với cấu trúc bàn đỡ cột buồm và bánh lái.

Liên kết giữa long cốt (mặt cắt hình vuông ở đáy) với xương đỡ vách khoang và ván mạn (hình dưới) và liên kết long cốt với vách ngăn ở vị trí có bàn đế cột buồm (khoang 7, hình trên)
Các ván mạn có độ dày khá đồng đều, trong khoảng 6-7cm, nhưng chiều dài không đồng đều, được nối với nhau bằng kiểu ngoàm vát chéo so le giữa các tầng ván mạn với nhau. Chiều cao mỗi ván mạn trong khoảng 30cm. Chúng tôi đếm được khoảng 12-15 tầng ván mạn bị bửa đổ ra ở phía đầu mũi bên phải con thuyền.
Liên kết để tạo độ đứng của mũi thuyền và chỗ dựa cho ván mạn phía đầu thuyền là một kỹ thuật rất độc đáo, giúp chốt thêm những đặc trưng kỹ thuật mang tính thời đại, sẽ được tôi "rì rầm" tiếp trong bài tuần sau.
"Hàng hóa gốm sứ của các thương lái đều xếp nằm nghiêng "úp thìa" trong các khoang này. Chúng được chèn kỹ bằng rơm, cỏ khô trong suốt hành trình"- TS Nguyễn Việt.










