Khai quốc công thần Lê Lâm

Vốn người thôn Dựng Tú, sách Đức Giang, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa, nay thuộc xã Kiên Thọ, tỉnh Thanh Hóa, Lê Lâm (? – 1431) là con thứ 3 của Trung Túc vương Lê Lai. Văn võ song toàn, ông đã có nhiều đóng góp trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và được sử sách lưu danh.

Ở đền An Lạc, Định triết Đại vương Lê Lâm vẫn được con cháu nhiều đời thờ phụng hương khói.

Ở đền An Lạc, Định triết Đại vương Lê Lâm vẫn được con cháu nhiều đời thờ phụng hương khói.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, nổi tiếng về tài năng, đức độ, lại trực tiếp chứng kiến những tội ác mà giặc Minh gây ra cho dân lành, Lê Lâm sớm thể hiện nghĩa khí của mình. Dù không nằm trong số những người tham gia Hội thề Lũng Nhai, song ông là người chứng kiến cuộc khởi nghĩa từ sớm, ngay khi Lê Lợi truyền hịch kêu gọi Nhân dân đồng lòng đứng lên khởi nghĩa đánh lại quân Minh xâm lược.

Ngày 4 tháng 4 năm Mậu Tuất (1418), Bình Định vương Lê Lợi kéo quân về Lam Sơn, sai Trịnh Đồ, Trịnh Khả, Trương Lôi đem vàng bạc đút lót tướng lĩnh nhà Minh nhằm hoãn binh. Dù nhận vàng, nhưng quân Minh vẫn tấn công vào Lam Sơn. Nghĩa quân phải rút lên Lạc Thủy, Bình Định vương cho đặt phục binh để đợi giặc đến. Khi quân địch kéo đến, quân ta nổi dậy đánh, các tướng Lê Thạch, Trịnh Đồ, Lê Ngân, Nguyễn Lý xông lên hãm trận; Lê Lâm cùng anh là Lê Lộ thúc quân từ hai sườn núi đánh tràn xuống. Địch vỡ thế trận, quân ta chém đầu hơn 3 ngàn quân địch, thu được nhiều vũ khí. Sau chiến thắng ở Lạc Thủy, Lê Lâm được thăng chức Tả trung quân thần vệ, tước Chiêu nghĩa bá.

Ngày 20 tháng 11 năm Tân Sửu (1421), Lý Bân phái tướng nhà Minh là Trần Trí dẫn quân ở các vệ Giao Châu tấn công căn cứ nghĩa quân Lam Sơn ở Ba Lẫm, ải Kình Lộng. Trước tình hình đó, Bình Định vương Lê Lợi bàn với các tướng - “Quân giặc nhiều, quân ta ít, nhưng quân giặc mệt, quân ta nhàn. Binh pháp có nói được hay thua là ở tướng chứ không phải ở quân nhiều hay ít, nay quân giặc tuy nhiều, nhưng ta đem quân hành đợi đánh quân mệt mỏi, chắc chắn sẽ đánh bại chúng”. Lê Lợi đã sai các tướng mai phục, Lê Lâm và Lê Lộ đem hai cánh quân phục binh ở đèo Ủng Ải để chờ địch, khi Trần Trí đem quân đến Ủng Ải (nay thuộc xã Thiết Ống) hai cánh quân mai phục từ hai sườn núi đánh tràn xuống tiêu diệt được nhiều tên địch. Bị đánh bất ngờ giữa một địa thế hiểm trở, Trần Trí thua trận phải rút quân về. Sau chiến thắng ở Ủng Ải, Lê Lâm được thăng Tả trung quân Thần vệ hiệu úy, Tham đốc phủ Chiêu nghĩa hầu.

Tháng 9/1424, nghĩa quân Lam Sơn giải phóng đồn Đa Căng, tiến đến Bồ Lạp châu Trà Long (Nghệ An) nhằm mở chiến lược tiến công quân giặc trên địa bàn cả nước. Khi quân ta đến châu Trà Long, tướng nhà Minh là Sư Hựu và Tri phủ Trà Long là Cầm Bành dẫn quân đón đánh mặt trước, trong khi Trần Trí, Lý An đem quân đuổi đánh mặt sau. Trước tình thế nguy cấp, Lê Lợi đã chia quân vào rừng mai phục. Trong trận này, Lê Lâm cùng các tướng xuất kích, chém được tướng giặc là Trần Trung và Trương Bản.

Sau những trận đánh thắng lợi liên tiếp, năm 1428, Lê Lâm được trao chức Thứ thủ quân Thiết đột. Trong số những người theo vua vào nơi gian khó ở Lũng Nhai lập nên công trạng, Lê Lâm đứng hàng thứ 3, được trao hàm Trung lượng đại phu Câu Kiềm vệ tướng quân, tước Thượng trí tự, Suy trung Đồng đức Hiệp mưu bảo chính công thần.

Như vậy, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, gia đình Lê Lai có 5 người, gồm: Lê Lạn (anh trai Lê Lai), Lê Lai cùng 3 người con là Lê Lư, Lê Lộ và Lê Lâm. 4 người đã anh dũng hy sinh, chỉ có Lê Lâm là được chứng kiến ngày đại định, được Lê Lợi trao chức tước và trọng trách lớn.

Năm 1430, giặc Ai Lao xâm phạm bờ cõi, vua Lê Thái Tổ sai Lê Lâm đem quân chinh phạt. Khi Lê Lâm đem quân truy kích giặc ở động Hồng Di, ông đã bị trúng tên tẩm thuốc độc của địch và hy sinh. Vua Lê Thái Tổ vô cùng thương tiếc đã ban cho Lê Lâm chức Thái úy, tước Trung quốc công, tên thụy là Uy Vũ.

Di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật quốc gia, đền An Lạc tại xã Hoằng Tiến.

Di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật quốc gia, đền An Lạc tại xã Hoằng Tiến.

Công lao của ông những đời vua sau tiếp tục ghi nhận. Lê Thánh Tông khi thăng chức tước cho Lê Niệm - con trai của Lê Lâm trong sắc dụ có viết: “Khi trước, đức Thái tổ ta dựng nên nghiệp lớn. Cha ngươi là Lê Lâm rong ruổi khắp đông, tây, vì nước bỏ mình”.

Năm 1767, vua Lê Hiển Tông ban sắc truy phong tước vương cho Thái úy Trung quốc công Lê Lâm đã khẳng định rằng ông “là bậc chính mạnh khí phách ở Lương Giang, bậc kỳ tài ở tháng ấp, sớm ra ứng nghĩa ở hội thề Lũng Nhai, theo việc tốt, vâng dẹp lớn lao, đời thế mãi truyền trên non nước, đáng được gia tặng người đầu của tông tộc, công lao mãi về sau xưng gọi vững bền".

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông giao cho người con thứ 4 của Lê Niệm là Lê Khủng (chắt của Lê Lai) đưa quân về bảo vệ cửa Lạch Trường. Từ đó, con cháu của Trung Túc vương Lê Lai dần về định cư tại vùng đất Hoằng Tiến ngày nay và dựng lên đền An Lạc để hương khói tiền nhân.

Ông Lê Văn Trang, hậu duệ đời thứ 19 của Trung Túc vương Lê Lai, Phó Ban Quản lý Di tích đền thờ An Lạc, cho biết: “Tiếp nối truyền thống của dòng dõi khai quốc công thần Trung Túc vương Lê Lai, con trai cụ là Lê Lâm là người trí dũng toàn tài, cuộc đời và sự nghiệp làm quan của cụ là niềm tự hào đối với cháu con dòng họ Lê hôm nay. Trải qua những giai đoạn khó khăn đến ngày cuộc khởi nghĩa thành công, cụ Lê Lâm đã để lại một di sản to lớn. Đặc biệt, cụ có người con trai duy nhất là Lê Niệm - được vua Lê Thánh Tông khen ngợi “là người có khí độ trầm hùng, thông minh và sáng suốt lại thuộc dòng dõi công huân, đáng nòi trung nghĩa. Rực rỡ thay cành hoa trong vườn quý, thơm ngát hương danh”. Hằng năm vào lễ cầu phúc và lễ tạ, con cháu trong dòng họ lại tập trung về Di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đền An Lạc cầu mong cuộc sống luôn lạc quan và bình an”.

(Bài viết có sử dụng tư liệu của sách Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Hồng Đức, 2021; Lê Lâm với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Thị Thúy Huệ...).

Bài và ảnh: CHI ANH

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/khai-quoc-cong-than-le-lam-43701.htm