Khai thác tài sản trí tuệ trong du lịch, văn hóa Huế: Chưa phát huy tốt giá trị sẵn có

HNN - Huế là vùng đất giàu giá trị văn hóa, tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nhiều dư địa để phát triển thành những sản phẩm du lịch, dịch vụ hấp dẫn. Tuy nhiên, để tạo đặc trưng riêng, được du khách biết đến và tin tưởng, các sản phẩm du lịch, văn hóa của Huế cần được nhận diện, khai thác một cách bài bản; trong đó, tài sản trí tuệ chính là công cụ bảo hộ quan trọng.

 Khai thác tốt tài sản trí tuệ nghề hoa giấy Thanh Tiên sẽ giúp gìn giữ làng nghề và phát triển sinh kế cộng đồng

Khai thác tốt tài sản trí tuệ nghề hoa giấy Thanh Tiên sẽ giúp gìn giữ làng nghề và phát triển sinh kế cộng đồng

Chưa phát huy tốt giá trị sẵn có

Huế là nơi có 8 di sản được UNESCO công nhận, 163 di tích cấp quốc gia, hàng ngàn làng nghề truyền thống, hơn 500 lễ hội lớn, nhỏ diễn ra quanh năm và nhiều điểm đến du lịch..., tạo nên đời sống văn hóa đặc sắc, thu hút du khách. Nhắc đến Huế còn phải kể đến hệ thống ẩm thực với gần 1.700 món ăn cung đình và dân gian. Những giá trị này vốn đã hiện hữu từ lâu, nhưng việc khai thác, định danh và nâng tầm thông qua xây dựng thương hiệu, phát triển tài sản trí tuệ vẫn còn nhiều khoảng trống. Ẩm thực là một ví dụ.

Dù được xem là một trong những "kho báu" lớn nhất của Huế với hệ thống món ăn phong phú bậc nhất cả nước, nhưng trên bản đồ du lịch, chỉ một số ít món được nhận diện rõ ràng thông qua đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu, như bún bò Huế, các loại bánh Huế (bèo, nậm, lọc), mè xửng, mắm tôm chua...

Phần lớn các món ăn còn lại dù rất nổi tiếng như cơm hến, bánh canh Nam Phổ, nem lụi, bánh khoái, vả trộn, ẩm thực chay, chè Huế..., nhưng vẫn tồn tại dưới dạng "truyền miệng", thiếu tiêu chuẩn chung, thiếu câu chuyện thương hiệu đi kèm. Điều này khiến ẩm thực Huế dù đa dạng nhưng chưa tạo được sức lan tỏa tương xứng, dễ bị "pha lẫn" khi ra thị trường rộng lớn.

Tương tự, ở các làng nghề như hoa giấy Thanh Tiên, tranh làng Sình... đều có sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa, có lịch sử lâu đời, nhưng phần lớn vẫn tiêu thụ theo quy mô nhỏ lẻ, phụ thuộc vào mùa vụ lễ hội. Việc đăng ký bảo hộ, xây dựng nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý… còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ bị sao chép mẫu mã, làm giảm giá trị và uy tín sản phẩm.

Thực tế, khi một sản phẩm hay điểm đến được "định danh" rõ bằng công cụ sở hữu trí tuệ, hiệu quả mang lại khá rõ. Điểm đến "Hương xưa Làng cổ Phước Tích" đã bước đầu tạo dựng được mô hình du lịch cộng đồng gắn với trải nghiệm nhà rường, làng quê sinh thái, nghề gốm truyền thống. Nếu so với khoảng 10 năm về trước, ngôi làng cổ Phước Tích gần như "tĩnh lặng", thì sau khi được quan tâm xây dựng thương hiệu gắn với du lịch cộng đồng, lượng khách tăng lên, sản phẩm gốm truyền thống và các mặt hàng phụ trợ cũng được tiêu thụ tốt hơn. Người dân ở làng cổ bắt đầu chú trọng hơn đến việc giữ gìn không gian sống, cảnh quan, nghề truyền thống để phục vụ du khách.

Nhưng nhìn tổng thể, việc khai thác tài sản trí tuệ du lịch ở Phước Tích hay nhiều điểm đến khác ở Huế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Các sản phẩm vẫn mang tính tự phát ở một số khâu. Nhiều giá trị đặc sắc như các món ăn, làng nghề, điểm đến vẫn chỉ dừng lại ở mức "có sẵn", chưa được chuẩn hóa, chưa có cơ chế bảo hộ rõ ràng, bài bản để tạo thành chuỗi giá trị bền vững.

Liên kết khai thác để tạo giá trị bền vững

Dù có nhiều tiềm năng, nhưng việc khai thác tài sản trí tuệ trong lĩnh vực du lịch ở Huế vẫn chưa thật sự tương xứng. Đại diện Cục Sở hữu trí tuệ trong một diễn đàn liên quan tại thành phố Huế cũng đã chỉ ra, một số thương hiệu du lịch trong nước, kể cả ở Huế có tên gọi hoặc biểu tượng, nhưng không có tiêu chuẩn và quy tắc đi kèm. Các thương hiệu du lịch hiện nay chủ yếu được bảo hộ trí tuệ cho một biểu tượng chung của khu vực địa lý nhưng chưa được quản lý, khai thác như một dạng tài sản công để phát huy giá trị kinh tế.

Vì thế, để tài sản trí tuệ phát huy hiệu quả, cần xác định rõ từng loại tài sản để có cách bảo hộ phù hợp. Chẳng hạn, các sản phẩm đặc sắc có thể tương ứng với chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận; các tri thức truyền thống hay văn hóa có thể được bảo hộ dưới hình thức quyền tác giả; các tác phẩm kiến trúc, công trình văn hóa nghệ thuật, điêu khắc nổi tiếng, các sản phẩm sản xuất tại địa phương cũng cần được bảo vệ dưới dạng bản quyền hoặc kiểu dáng công nghiệp.

Song song đó, việc lựa chọn mô hình quản lý cũng rất quan trọng. Hiện nay có thể áp dụng ba mô hình: Quản lý tập trung, khai thác tập thể và xã hội hóa. Mô hình quản lý tập trung với sự tham gia của cơ quan nhà nước giúp giữ được tính thống nhất, phù hợp với các di sản đã được xếp hạng. Mô hình khai thác tập thể lại phát huy được vai trò của cộng đồng, nhất là ở các làng nghề. Trong khi đó, mô hình xã hội hóa, với sự tham gia của doanh nghiệp có lợi thế về nguồn lực, khả năng sáng tạo sản phẩm và mở rộng thị trường.

Tuy vậy, mỗi mô hình đều có mặt hạn chế. Nếu quản lý quá chặt, có thể làm giảm tính linh hoạt. Nếu thiếu quy định rõ ràng, dễ dẫn đến tình trạng "mạnh ai nấy làm". Còn nếu chạy theo lợi nhuận, việc khai thác có thể làm mất đi những giá trị vốn có.

Nhiều ý kiến cho rằng, điều quan trọng là phải giữ được sự cân bằng giữa khai thác và bảo tồn. Vì tài sản trí tuệ không chỉ để làm kinh tế, mà còn là phần hồn của văn hóa. Khi du lịch phát triển tốt, người dân sẽ có thêm thu nhập, từ đó có điều kiện giữ gìn di sản. Ngược lại, chính những giá trị văn hóa, tri thức truyền thống của cộng đồng lại là yếu tố tạo nên sức hút cho du lịch. Đây là mối tương hỗ cần được phát huy để duy trì phát triển bền vững.

Tài nguyên tự nhiên, văn hóa và con người Huế chính là những tài sản trí tuệ không nơi nào có được. Một khi những giá trị tài sản này được nhận diện rõ ràng, được bảo hộ và khai thác hợp lý, văn hóa Huế, du lịch Huế sẽ không chỉ tăng lượng khách trong nhất thời, mà sẽ níu chân du khách quay trở lại, ở lâu hơn, để khám phá sâu hơn những bản sắc, tài sản riêng có của Huế.

Bài, ảnh: HOÀI THƯƠNG

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/du-lich/khai-thac-tai-san-tri-tue-trong-du-lich-van-hoa-hue-chua-phat-huy-tot-gia-tri-san-co-165122.html