Khẳng định chất lượng nông sản từ quy trình hữu cơ

Việc tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế đang giúp nông dân xã Phú Thuận (thành phố Đà Nẵng) tạo ra nông sản sạch phục vụ xuất khẩu.

Bà Lê Thị Nam (bên phải) trên diện tích mè hữu cơ đạt chuẩn quốc tế. Ảnh: TRẦN TRÚC

Bà Lê Thị Nam (bên phải) trên diện tích mè hữu cơ đạt chuẩn quốc tế. Ảnh: TRẦN TRÚC

Khắt khe quy trình sản xuất

Trên những bãi bồi ven sông tại thôn Phú Xuân (xã Phú Thuận), một phương thức sản xuất “thuận nhiên” đang được 22 hộ dân nơi đây thực hiện với những tiêu chuẩn khắt khe nhất.

Không còn là những mảnh vườn canh tác theo kinh nghiệm truyền thống, vùng nguyên liệu mè đen và đậu phộng tại đây đã bước sang năm thứ 3 nhận chứng nhận hữu cơ quốc tế của Liên minh châu Âu (EU), Mỹ và Nhật Bản.

Để có được tấm “giấy thông hành” vào các thị trường khó tính này, mỗi tấc đất, mỗi hạt giống và từng quy trình của nông dân đều phải đặt dưới sự giám sát chặt chẽ.

Ông Phan Văn Lành, Tổ trưởng chi hội nghề nghiệp nông nghiệp hữu cơ trồng mè, đậu phộng sạch (xã Phú Thuận) chia sẻ, sản xuất hữu cơ thực sự là một cuộc thử thách về lòng kiên trì.

Ngay từ khâu chuẩn bị đất, quy trình đã bắt đầu bằng sự tỉ mỉ. Đất phải đảm bảo độ ẩm, cỏ phát xuống được giữ lại tại chỗ để tái tạo dinh dưỡng và đặc biệt là mọi dụng cụ máy móc trước khi đưa vào đồng ruộng đều phải được vệ sinh sạch sẽ để tránh nhiễm chéo chất lạ.

Những chất được phép sử dụng là vôi, lân và phân chuồng đã qua xử lý, tạo nên một hệ sinh thái đất khỏe mạnh.

Sự khắt khe còn thể hiện ở việc ứng dụng công nghệ giám sát. Trên cánh đồng, hệ thống camera được lắp đặt để theo dõi toàn bộ quá trình canh tác.

Nông dân thôn Phú Xuân thu hoạch đậu phộng. Ảnh: TRẦN TRÚC

Nông dân thôn Phú Xuân thu hoạch đậu phộng. Ảnh: TRẦN TRÚC

Điều này không chỉ phục vụ việc truy xuất nguồn gốc mà còn đảm bảo tính minh bạch tuyệt đối, ngăn chặn việc người lạ xâm nhập vùng sản xuất mang theo các nguồn ô nhiễm tiềm tàng.

Đối với sâu bệnh, nông dân Phú Thuận chấp nhận quy luật “tự sinh tự diệt” hoặc thực hiện các biện pháp thủ công như nhổ bỏ, cách ly cây bệnh thay vì tìm đến các loại thuốc bảo vệ thực vật, dù là thuốc sinh học.

Tuy nhiên, đằng sau những chứng nhận quốc tế là công sức miệt mài của nông dân trên đồng ruộng.

Bà Lê Thị Nam, một trong số 22 hộ dân trồng mè đen và đậu phộng hữu cơ nói, làm hữu cơ là “lấy công làm lời”.

Vì không sử dụng thuốc diệt mầm hay thuốc trừ cỏ hóa học, bà con phải nhổ cỏ bằng tay quanh năm suốt tháng.

“Vất vả, nhưng đổi lại nông dân không còn phải ngửi mùi thuốc sâu, chân tay không còn lấm lem hóa chất. Người khỏe ra thì hạt đậu, hạt mè mình làm ra mới thực sự sạch được”, bà Nam chia sẻ.

Giá trị bền vững

Sự thành công của mô hình nông nghiệp hữu cơ tại xã Phú Thuận không thể thiếu vai trò “bà đỡ” của doanh nghiệp.

Quy trình canh tác được nông dân thực hiện với những tiêu chuẩn khắt khe. Ảnh: TRẦN TRÚC

Quy trình canh tác được nông dân thực hiện với những tiêu chuẩn khắt khe. Ảnh: TRẦN TRÚC

Hơn 10 năm qua, hợp tác giữa Hội Nông dân xã và Công ty TNHH Thực phẩm NOOM (xã Thăng An) đã tạo ra chuỗi liên kết bền vững, giúp nông dân xóa bỏ nỗi lo “được mùa mất giá”.

Việc kiên trì theo đuổi sản xuất hữu cơ đã mang lại những giá trị kinh tế thực chất, làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế nông thôn.

Dù năng suất hữu cơ thường thấp hơn khoảng 15% so với canh tác thông thường, nhưng giá trị thương mại lại có sự bứt phá đáng kể.

Hiện nay, đậu phộng được doanh nghiệp bao tiêu với giá 55.000 đồng/kg và mè là 70.000 đồng/kg, cao hơn 20-30% so với giá thị trường.

Đặc biệt, mức giá này được ấn định ngay từ đầu vụ, giúp nông dân hoàn toàn chủ động về thu nhập và yên tâm đầu tư công sức mà không lo bị ép giá.

Hiệu quả kinh tế còn đến từ tính bền vững của tài nguyên đất.

Sau mỗi vụ thu hoạch, thay vì đốt bỏ phế phụ phẩm, nông dân tận dụng thân cây đậu, mè băm nhỏ trả lại cho đồng ruộng làm phân xanh.

Bên cạnh đó, chế độ cho đất nghỉ ngơi 4 tháng trong mùa mưa lũ để đón phù sa bồi đắp, độ phì nhiêu của đất đai tại thôn Phú Xuân ngày càng được cải thiện.

Đây là yếu tố then chốt giúp cây trồng có sức đề kháng tự nhiên tốt hơn, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh mà không cần đến sự can thiệp của hóa chất.

Mô hình này còn tạo ra một sự thay đổi lớn trong tư duy quản trị nông nghiệp của Hội Nông dân địa phương.

Sự liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở khâu bao tiêu sản phẩm mà còn là sự đồng hành về kỹ thuật.

Các chuyên gia nông nghiệp thường xuyên về tận đồng ruộng để tập huấn cho bà con, từ cách xử lý nấm bệnh đến kỹ thuật thu hoạch và bảo quản để không làm giảm chất lượng hữu cơ.

Điều này đã hình thành nên một lớp nông dân mới tại Đà Nẵng, những nông dân có kiến thức, có kỷ luật và có ý thức về bảo vệ môi trường.

Theo bà Lê Thị Ánh, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phú Thuận, sự ổn định của 6,7ha vùng nguyên liệu hữu cơ hiện nay là tiền đề quan trọng để địa phương hướng tới những mục tiêu xa hơn.

Dù diện tích này được duy trì ổn định để đảm bảo chất lượng kiểm soát nghiêm ngặt nhất, nhưng tinh thần và quy trình hữu cơ đang được lan tỏa sang các nhóm cây trồng khác.

Định hướng sắp tới của xã là tiếp tục phối hợp với doanh nghiệp khảo sát và đưa cây dược liệu vào canh tác theo hướng hữu cơ trên diện tích đất nông nghiệp sẵn có, nhằm đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao hơn nữa thu nhập cho hội viên.

Nhìn lại chặng đường hơn 10 năm chuyển đổi, câu chuyện nông nghiệp hữu cơ tại Phú Thuận không chỉ là những con số tăng trưởng doanh thu.

Đó là minh chứng cho sức mạnh của sự liên kết và tính kiên định trong sản xuất sạch.

Có thể khẳng định, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ chính là con đường tất yếu để Đà Nẵng xây dựng một nền kinh tế xanh, bền vững.

TRẦN TRÚC

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/khang-dinh-chat-luong-nong-san-tu-quy-trinh-huu-co-3337134.html