KHÁT VỌNG ARABICA SƠN LA - VƯƠN TẦM THẾ GIỚI • Kỳ II: Từ 'Giữ cây' đến bứt phá chuỗi giá trị

Sự bền bỉ của nông dân Sơn La đã giữ cho những nương Arabica Sơn La đứng vững qua những thăng trầm. Nhưng để bứt phá đường dài, chỉ "giữ cây" là chưa đủ. Bằng việc "trẻ hóa" những diện tích già cỗi, thay đổi giống, kỹ thuật, đến cái bắt tay giữa người trồng với HTX và doanh nghiệp, một tư duy sản xuất mới đã hình thành. Vùng cà phê Sơn La chuyển dịch mạnh mẽ, từ kinh nghiệm manh mún, riêng lẻ sang quy trình chuẩn hóa, lấy chất lượng và tín hiệu thị trường làm thước đo giá trị.

Sự bền bỉ của nông dân Sơn La đã giữ cho những nương Arabica Sơn La đứng vững qua những thăng trầm. Nhưng để bứt phá đường dài, chỉ "giữ cây" là chưa đủ. Bằng việc "trẻ hóa" những diện tích già cỗi, thay đổi giống, kỹ thuật, đến cái bắt tay giữa người trồng với HTX và doanh nghiệp, một tư duy sản xuất mới đã hình thành. Vùng cà phê Sơn La chuyển dịch mạnh mẽ, từ kinh nghiệm manh mún, riêng lẻ sang quy trình chuẩn hóa, lấy chất lượng và tín hiệu thị trường làm thước đo giá trị.

Giữ cây qua những mùa quả khó

Giai đoạn 2014-2015 là quãng thời gian khó khăn đối với nhiều người trồng cà phê Sơn La. Giá cà phê quả tươi có thời điểm khoảng 3.000 đồng/kg, trong khi chi phí đầu tư, chăm sóc trên 5.000 đồng/kg. Thu không đủ bù chi, tại một số vùng, người dân phá bỏ cà phê để chuyển sang cây trồng khác.

Ông Nguyễn Bích Thao hướng dẫn người dân thu hái cà phê THA1.

Ông Nguyễn Bích Thao hướng dẫn người dân thu hái cà phê THA1.

Gia đình ông Nguyễn Xuân Thao, tổ 8, phường Chiềng Cơi, khi đó có khoảng 4 ha cà phê Arabica. Nhìn những vườn cà phê bị chặt bỏ, ông từng tính đến việc chuyển sang cây ăn quả, hoặc trồng sắn, mía - những cây có doanh nghiệp thu mua. Nhưng sau nhiều lần cân nhắc, ông quyết định giữ lại toàn bộ diện tích. Ông Thao nhớ lại: Chứng kiến cảnh bà con phá bỏ cà phê, thú thực ban đầu cũng muốn chặt để chuyển sang cây ăn quả hay trồng sắn, trồng mía bán cho các công ty, nhưng nghĩ lại, cây cà phê tuy giá cả có lúc lên, lúc xuống nhưng chưa bao giờ Nhà nước phải giải cứu, chưa khi nào bà con phải mang đi đổ như nhiều loại nông sản khác. Lỗi không nằm ở cây cà phê, mà nằm ở chính cách mình làm chưa tới, trăn trở đó, nên tôi đã giữ cây cà phê lại.

Sau đó, nghiên cứu từ tài liệu trong nước, cùng kinh nghiệm sản xuất ở các vùng cà phê khác, ông Thao trở lại vườn cây của mình để thử nghiệm, nhận ra hạn chế không chỉ nằm ở giá cả, mà còn ở cách sản xuất nhỏ lẻ, mỗi hộ chăm sóc theo một cách; quả xanh, quả chín thu hái lẫn; sơ chế đơn giản nên chất lượng nguyên liệu thiếu đồng đều. Vì vậy, ông Thao bắt đầu thay đổi cách chăm sóc, thu hái, sơ chế trên diện tích của gia đình. Tuy nhiên, muốn có lượng nguyên liệu đủ lớn và bảo đảm chất lượng, một hộ làm chưa đủ. Năm 2017, ông liên kết với 11 hộ trồng cà phê, thành lập HTX Cà phê Bích Thao, HTX cà phê đầu tiên của tỉnh với quy mô ban đầu 50 ha. Từ 11 hộ ban đầu, với cách làm bài bản, vùng liên kết từng bước mở rộng, đến nay, HTX Cà phê Bích Thao có khoảng 800 hộ với 1.500 ha cà phê tham gia chuỗi. 

Cách làm thay đổi, nhưng một vấn đề khác hiện rõ trên những nương cà phê lâu năm: cây già dần, năng suất giảm. Muốn giữ vùng nguyên liệu, những vườn cây ấy cũng phải được làm mới. Năm 2017, đánh dấu một dấu mốc quan trọng. Sản phẩm cà phê Sơn La được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho 3 nhóm sản phẩm: cà phê nhân, cà phê rang và cà phê bột. Ngày 27/10/2017, tại Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La tổ chức lễ công bố chỉ dẫn địa lý “Sơn La” cho sản phẩm cà phê.

Trước khi có chỉ dẫn địa lý, dù đã hình thành vùng nguyên liệu Arabica tập trung, cà phê Sơn La vẫn chủ yếu tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu; khâu thu hái, chế biến chưa đồng đều, tên tuổi của vùng sản xuất chưa thể hiện rõ trên thị trường. Việc được bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã xác lập tên gọi “Sơn La” cho sản phẩm gắn với nguồn gốc và những đặc trưng về chất lượng, tạo thêm điều kiện phát triển sản phẩm mang thương hiệu của vùng trồng.

Cục Sở hữu trí tuệ trao chứng nhận chỉ dẫn địa lý cà phê Sơn La cho tỉnh Sơn La.

Cục Sở hữu trí tuệ trao chứng nhận chỉ dẫn địa lý cà phê Sơn La cho tỉnh Sơn La.

Sau khi chỉ dẫn địa lý được công bố, tỉnh triển khai việc quản lý, phát triển và cấp quyền sử dụng cho các tổ chức đủ điều kiện. Bốn doanh nghiệp, HTX được cấp chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý gồm: Công ty TNHH Xuất nhập khẩu cà phê Minh Tiến, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Cát Quế, Công ty TNHH Cà phê Sơn La và HTX Cà phê Bích Thao Sơn La.

Cũng trong năm đó, Hội Cà phê Sơn La được thành lập, tạo thêm đầu mối kết nối các chủ thể tham gia ngành hàng; dự án Nhà máy Cà phê Phúc Sinh Sơn La được khởi công, đánh dấu sự tham gia của một doanh nghiệp chế biến quy mô lớn vào vùng nguyên liệu của tỉnh.

Ông Vương Văn Hải, Chủ tịch Hội Cà phê Sơn La, cho biết: Trước khi có chỉ dẫn địa lý, cà phê Sơn La chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu, tên tuổi vùng sản xuất chưa được thể hiện rõ trên thị trường. Việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý tạo điều kiện xác lập tên gọi, quản lý chất lượng, phát triển các sản phẩm mang thương hiệu Sơn La; người sản xuất, HTX và doanh nghiệp cũng phải chú trọng hơn đến chất lượng sản phẩm gắn với tên gọi đã được bảo hộ.

 Trẻ hóa những nương cà phê

Trước thực trạng nhiều diện tích cà phê bước vào giai đoạn già cỗi, giai đoạn 2017-2018, ngành nông nghiệp rà soát cà phê già cỗi, lập lộ trình tái canh, ghép, đốn cải tạo và đưa các giống cà phê mới vào trồng.

Vùng chuyên canh cà phê Arabica Sơn La

Vùng chuyên canh cà phê Arabica Sơn La

Gia đình ông Lò Văn Sáng, bản Pảng, phường Chiềng An, có 1,6 ha, trong đó 8.000 m² trồng hơn 20 năm. Qua nhiều vụ thu hoạch, cây dần xuống sức, quả nhỏ, sâu bệnh nhiều hơn, năng suất giảm. Được hướng dẫn kỹ thuật, gia đình ông cải tạo phần diện tích già cỗi, điều chỉnh cách chăm sóc, tăng sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh.

Trên những gốc cà phê đã qua hơn hai thập kỷ cho quả, những chồi mới lại được nuôi lên; 8.000 m² sau cải tạo cho thu hoạch khoảng 10 tấn quả tươi. Ông Sáng nói: Để không ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình, diện tích cà phê già cỗi được tái canh theo hình thức cuốn chiếu, làm từng phần qua các năm. Những cây còn gốc khỏe thì đốn, ghép cải tạo để tiếp tục khai thác; diện tích cây đã già cỗi, khả năng phục hồi thấp mới trồng thay thế. Nhờ vậy, gia đình vừa duy trì sản xuất, vừa từng bước trẻ hóa vườn cà phê.

Từ những mô hình tại cơ sở, việc trẻ hóa mở rộng trên các vùng trồng. Giai đoạn 2021-2025, Sơn La tái canh, đốn trẻ hóa, ghép cải tạo 2.818 ha cà phê; trong đó, trên 1.200 ha trồng tái canh và trên 1.600 ha ghép, cải tạo. Một số diện tích sau ghép giống mới cho năng suất tăng 20-25% so với giống cũ. Song song với cải tạo vườn cây già cỗi, việc quản lý giống được trú trọng tại các cơ sở ươm để bảo đảm nguồn vật liệu chất lượng cho tái canh và ghép cải tạo. Những dòng Arabica thích ứng tốt, năng suất cao được ưu tiên đưa vào gieo trồng; đồng thời, nông dân được hướng dẫn bài bản kỹ thuật tỉa cành, tạo tán, bổ sung dinh dưỡng và phòng trừ sâu bệnh theo từng giai đoạn phát triển.

Cán bộ xã Muổi Nọi kiểm tra diện tích cà phê tái canh tại bản Muổi Nọi.

Cán bộ xã Muổi Nọi kiểm tra diện tích cà phê tái canh tại bản Muổi Nọi.

Ông Trần Dũng Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: Quá trình cải tạo vùng cà phê thực hiện trên cơ sở đánh giá tình trạng từng vườn cây, đồng thời gắn với quản lý nguồn giống và chuyển giao kỹ thuật. Qua đó, từng bước phục hồi năng suất những diện tích già cỗi, nâng chất lượng vườn cây và duy trì ổn định vùng sản xuất cà phê của tỉnh.

Việc trẻ hóa các vườn cà phê già cỗi chỉ là bước đầu. Đứng trước thực tế vùng nguyên liệu Sơn La được cấu thành từ hàng nghìn hộ nhỏ lẻ, nếu không chung một quy trình sản xuất, chất lượng hạt cà phê khó đạt độ đồng đều. Do đó, đi đôi với "trẻ hóa" vườn cây, tỉnh Sơn La đẩy mạnh tổ chức lại sản xuất, tập hợp nông dân vào các HTX, gắn kết chặt chẽ vùng nguyên liệu với các doanh nghiệp chế biến sâu. Đây chính là chìa khóa quyết định, nâng cao giá trị và đưa thương hiệu cà phê Sơn La vươn xa.

Liên kết để tổ chức lại sản xuất

Sau giai đoạn khó khăn 2014-2015, các hình thức liên kết trong sản xuất cà phê ở Sơn La từng bước hình thành và mở rộng. Nếu HTX giúp tập hợp những hộ sản xuất nhỏ lẻ, thì sự tham gia của doanh nghiệp, đưa yêu cầu của chế biến đến gần hơn với vùng trồng. 

Nhà máy chế biến sâu tinh chế cà phê từ sản phẩm cà phê của Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La.

Nhà máy chế biến sâu tinh chế cà phê từ sản phẩm cà phê của Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La.

Năm 2018, Nhà máy chế biến cà phê Phúc Sinh Sơn La đi vào hoạt động. Cùng với đầu tư chế biến, Công tymở rộng liên kết với người trồng, xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ nhà máy. Cán bộ kỹ thuật được cử xuống "cầm tay chỉ việc" tại các vùng trồng, cùng nông dân kiểm soát vật tư đầu vào, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và thu hái. 

Anh Vũ Ngọc Huy, Trưởng phòng Quản lý vùng nguyên liệu, Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La, chia sẻ: Với số lượng hộ tham gia lớn, cán bộ kỹ thuật phải thường xuyên bám vùng, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quy trình. Qua đó, những khâu chưa bảo đảm được phát hiện, điều chỉnh ngay trong quá trình canh tác, trước khi quả cà phê được đưa về nhà máy.

Mô hình canh tác cà phê thông minh tại xã Chiềng Mai

Mô hình canh tác cà phê thông minh tại xã Chiềng Mai

Từ những hộ liên kết ban đầu, vùng nguyên liệu của Phúc Sinh từng bước được mở rộng. Đến nay, Công ty liên kết với 1.600 hộ, trên 2.000 ha sản xuất theo chương trình chứng nhận Rainforest Alliance; 690 hộ tham gia xây dựng 30 vườn mẫu chất lượng cao. Riêng vùng sản xuất cà phê ứng dụng công nghệ cao, có 876 hộ, diện tích trên 671 ha.

Nhà máy chế biến cà phê Sơn La, xã Chiềng Mung.

Nhà máy chế biến cà phê Sơn La, xã Chiềng Mung.

Sự chuyển mình của vùng cà phê Sơn La không còn là câu chuyện đơn độc của những hộ nông dân, mà đã trở thành làn sóng hợp tác rộng khắp. Cùng với các "ông lớn" như Phúc Sinh, nhiều doanh nghiệp, HTX đã bắt tay cùng người trồng. Tiêu biểu, Công ty Cổ phần Chế biến cà phê Sơn La đã bắt nhịp liên kết với gần 680 hộ dân trên diện tích 368 ha; HTX Ara-Tay Coffee quy tụ 14 thành viên canh tác 70 ha cùng mạng lưới thu mua cho 300 hộ lân cận; hay Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Cát Quế kiên trì chuẩn hóa vùng trồng theo các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt như 4C và Rainforest Alliance.

Ca sản xuất tại Nhà máy chế biến cà phê Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La.

Ca sản xuất tại Nhà máy chế biến cà phê Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La.

Quá trình tổ chức lại sản xuất được tỉnh cụ thể hóa bằng Quyết định số 331/QĐ-UBND năm 2021 về Đề án "Phát triển vùng nguyên liệu cà phê gắn với chế biến, bảo vệ môi trường" và Kết luận số 863-KL/TU năm 2023 về sản xuất, chế biến, tiêu thụ cà phê ứng dụng công nghệ cao đến năm 2030. Các vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo tiêu chuẩn 4C, Rainforest Alliance được xây dựng, mở rộng, gắn vùng trồng với HTX, doanh nghiệp và các cơ sở chế biến.

Các đại biểu tham quan khu vực chế biến cà phê đặc sản của HTX cà phê Bích Thao.

Các đại biểu tham quan khu vực chế biến cà phê đặc sản của HTX cà phê Bích Thao.

Thông qua các chuỗi liên kết, vai trò của từng chủ thể được định hình rõ nét: Nông dân đảm bảo chất lượng nông sản, HTX tổ chức sản xuất, còn doanh nghiệp hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu chế biến. Dù vậy, mô hình này vẫn gặp không ít lực cản do diện tích canh tác còn nhỏ lẻ, trình độ thâm canh bất đồng đều và rủi ro từ sự biến động giá cả thị trường. Đáng chú ý, tình trạng "phá rào" liên kết vẫn diễn ra: Khi giá cà phê tăng cao, một bộ phận người dân sẵn sàng bán ra ngoài; ngược lại, lúc thị trường rớt giá, áp lực tiêu thụ lại dồn hết lên vai doanh nghiệp.

Ca sản xuất tại Nhà máy chế biến cà phê Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La.

Ca sản xuất tại Nhà máy chế biến cà phê Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La.

Ông Vũ Việt Thắng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La, nhận định: Thực tế xây dựng vùng nguyên liệu cho thấy, để duy trì liên kết ổn định, doanh nghiệp và người sản xuất phải cùng giữ cam kết và hài hòa lợi ích. Người trồng cần đầu ra, giá thu mua phù hợp; doanh nghiệp cần nguồn nguyên liệu ổn định về sản lượng và đáp ứng yêu cầu chất lượng cho chế biến.

Đại biểu tham quan, trải nghiệm không gian cà phê Arabica Sơn La.

Đại biểu tham quan, trải nghiệm không gian cà phê Arabica Sơn La.

Sau gần một thập kỷ kiên trì, từ những mảnh vườn manh mún, trăn trở giữ hay bỏ, vùng cà phê Sơn La đã có cuộc "lột xác" ngoạn mục. Cây già cỗi được trẻ hóa bằng những dòng giống mới; quy trình canh tác được chuẩn hóa; và những nông hộ riêng lẻ nay đã đứng chung trong một chuỗi liên kết bền chặt từ vườn cây đến nhà máy. Câu chuyện của Arabica Sơn La hôm nay không dừng lại ở việc mở rộng diện tích hay nâng cao năng suất, mà đã bước sang một chương mới: Kiến tạo giá trị, khẳng định chất lượng và nâng tầm thương hiệu hạt cà phê Việt trên thị trường quốc tế.

(Còn nữa)

Nhóm tác giả: Quỳnh Ngọc - Nguyễn Yến -  Thành Lê

Nguồn Sơn La: https://baosonla.org.vn/phong-su/khat-vong-arabica-son-la-vuon-tam-the-gioi-ky-ii-tu-giu-cay-den-but-pha-chuoi-gia-tri-kB02N8XDg.html