Khi camera an ninh 'soi' sang nhà hàng xóm: Có vi phạm pháp luật?
Ngày càng có nhiều gia đình lắp camera để chống trộm, nhưng không ít trường hợp thiết bị lại hướng sang sân, cửa ra vào hoặc ban công nhà bên cạnh.
Camera an ninh ngày càng trở thành thiết bị quen thuộc tại nhiều gia đình để bảo vệ tài sản và phòng ngừa trộm cắp. Tuy nhiên, không ít trường hợp camera được lắp đặt với góc quay hướng sang sân, ban công, cửa ra vào hoặc thậm chí không gian sinh hoạt của nhà hàng xóm. Điều này làm dấy lên tranh cãi về ranh giới giữa quyền bảo vệ tài sản và quyền được bảo đảm đời sống riêng tư.
Vậy pháp luật quy định như thế nào về việc lắp đặt camera tại nhà riêng? Khi nào việc ghi hình có thể bị xem là xâm phạm quyền riêng tư của người khác? Xung quanh vấn đề này, Luật sư Trần Tiến Quân, Đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hóa, đã có những phân tích, làm rõ các quy định pháp luật hiện hành.

Không ít gia đình lắp camera ở trước cửa nhà. Ảnh: Quỳnh Mai.
Luật sư Trần Tiến Quân cho biết, Khoản 1 Điều 21 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn".
Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 38 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của công dân như sau: “Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác".
Về nguyên tắc, camera an ninh chỉ được đặt trong phạm vi ghi nhận hình ảnh trong không gian của chủ sở hữu camera, không gian công cộng như cổng nhà, lối đi chung hoặc đường công cộng. Việc lắp đặt camera an ninh tại cổng nhà nhằm mục đích bảo vệ tài sản, bảo đảm an toàn và an ninh trật tự là quyền chính đáng và không bị pháp luật cấm.
"Việc lắp camera an ninh chĩa thẳng qua nhà hàng xóm (sân nhà, cửa ra vào, ban công hay bên trong nhà ở), ghi nhận hoặc có khả năng theo dõi sinh hoạt hằng ngày của nhà hàng xóm” thì hành vi này đã vượt qua ngoài “mục đích, chức năng của camera an ninh” và có dấu hiệu của hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền bất khả xâm phạm đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình.
Theo đó, trường hợp lắp camera chĩa sang nhà hàng xóm có thể được xem là hành vi xâm phạm quyền riêng tư của người khác", luật sư Trần Tiến Quân nhấn mạnh.
Dấu hiệu nào cho thấy camera bị lạm dụng để xâm phạm quyền riêng tư?
Theo luật sư Trần Tiến Quân, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, đồng thời việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó.
Theo đó, việc cá nhân lắp camera chĩa sang nhà người khác là hành vi vi phạm pháp luật khi thỏa mãn các điều kiện sau:
Góc quay của camera có ghi hình được hình ảnh của nhà người khác;
Cá nhân có hành vi thu thập, lưu giữ, sử dụng và công khai hình ảnh, thông tin có được về gia đình nhà người khác khi chưa được sự đồng ý của gia đình nhà người khác và cũng không thuộc các trường hợp ngoại lệ do luật định;
Việc cá nhân đăng tải thông tin của gia đình nhà người khác thu thập được từ dữ liệu camera lên mạng xã hội là nhằm mục đích xúc phạm nhân phẩm, danh dự của gia đình nhà người khác.
Chủ camera vi phạm có thể bị xử phạt như thế nào?
Luật sư Trần Tiến Quân cho hay, trong trường hợp bị hàng xóm lắp đặt camera an ninh chĩa sang nhà, làm phát sinh nguy cơ xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày và gây cảm giác bất an, khó chịu, người bị xâm phạm hoàn toàn có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm điều chỉnh lại hướng camera an ninh.
Việc điều chỉnh cần bảo đảm camera chỉ ghi hình trong phạm vi gia đình người có hành vi xâm phạm hoặc không gian công cộng, không tiếp tục hướng vào khu vực riêng tư của gia đình người bị xâm phạm . Quá trình trao đổi nên được thực hiện trên tinh thần thiện chí, tôn trọng và giữ gìn tình làng nghĩa xóm, đồng thời làm rõ ranh giới hợp lý giữa không gian công cộng và không gian riêng tư để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
"Nếu quyền và lợi ích hợp pháp của bạn vẫn bị xâm phạm, người dân có thể gửi yêu cầu phản ánh đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Công an xã/phường, UBND) hoặc khởi kiện ra Tòa án để buộc chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại (nếu có)", luật sư nói.
Luật sư Trần Tiến Quân cho biết thêm, theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP có nêu rõ, hành vi lợi dụng việc sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân là một trong những hành vi bị nghiêm cấm.
Đối với trường hợp sử dụng hình ảnh từ camera để đưa lên mạng xã hội thì còn phụ thuộc vào mức độ vi phạm, tính chất của hành vi đó mà người vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cụ thể như sau:
Xử phạt hành chính: Căn cứ Khoản 3 Điều 100 Nghị định 15/2020/NĐ-CP có quy định phạt tiền từ 50 đến 70 triệu đồng đối với người có hành vi chủ động lưu trữ, truyền đưa thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân.

Luật sư Trần Tiến Quân, Đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: NVCC.
Bên cạnh đó, cá nhân trong trường hợp này có quyền yêu cầu tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình và có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 34 Bộ Luật Dân sự 2015.
Truy cứu trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi Bộ Luật hình sự 2017 có quy định hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm và danh dự của người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Làm nhục người khác”. Theo đó, Người vi phạm trong trường hợp này có thể bị cảnh cáo, phạt tiền từ 10 đến 30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.
Bên cạnh đó, trường hợp thuộc một trong những trường hợp dưới đây thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm, cụ thể:
Phạm tội 2 lần trở lên.
Đối tượng bị xúc phạm là 2 người trở lên.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
Đối tượng bị xúc phạm đang thi hành công vụ.
Đối tượng bị xúc phạm là người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho người phạm tội.
Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội.
Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
Đặc biệt, trường hợp gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên hoặc Làm nạn nhân tự sát thì có thể bị xử phạt từ 2 đến 5 năm tù. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong khoảng thời gian từ 1 đến 5 năm.












