Khi doanh nghiệp Việt đi tìm vốn Nhật: Một lộ trình không thể vội vàng
Theo Tổng giám đốc ONE-VALUE Phi Thị Hoa, để đi đến một thương vụ M&A với đối tác Nhật, doanh nghiệp Việt không chỉ cần tiềm năng tăng trưởng mà còn phải chuẩn bị về tài chính, quản trị và chữ tín, với một lộ trình có thể kéo dài tới 3 năm.

Toàn cảnh Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ II. Ảnh: BTC
Chia sẻ tại Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ II (CEF II) tổ chức ngày 27/8, ông Phạm Đức Dũng, Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư, CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), cho rằng M&A (mua bán sáp nhập) có thể được sử dụng như một công cụ hỗ trợ tăng trưởng, thay vì chỉ được nhìn nhận như một rủi ro khiến chủ doanh nghiệp mất quyền sở hữu.
Những nhận định này, theo ông Dũng, được đúc kết từ hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực tư vấn M&A, đầu tư và kiểm toán. Ông từng làm việc tại các tổ chức quốc tế như EY, Deloitte, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Barclays của Anh.
Địa điểm tổ chức CEF II tại số 36 Hoàng Cầu cũng gợi lại một thương vụ M&A mà ông Dũng trực tiếp thực hiện năm 2024. Lễ ký kết diễn ra tại chính hội trường tầng 4 của tòa nhà này, liên quan đến Công ty Bảo hiểm Hàng không (VNA), hiện là Công ty Bảo hiểm DBV.
Sau thương vụ, doanh nghiệp nhận vốn đầu tư từ Tập đoàn bảo hiểm DB Insurance của Hàn Quốc, đổi tên thành DBV và sau đó chuyển sang văn phòng mới tại khu vực Cầu Giấy.
Theo số liệu được ông Dũng trình bày tại diễn đàn, các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam đang được đánh giá tích cực, với tăng trưởng GDP trên 8%, cùng định hướng của Chính phủ hướng tới mức tăng trưởng hai con số trong 5 năm tới. Lạm phát được kiểm soát ở khoảng 3%.
Tuy nhiên, mức độ thâm nhập vốn lại tương đối thấp so với khu vực. Tỷ lệ vốn hóa thị trường trên GDP của Việt Nam ở mức 75%, so với khoảng 130% của khu vực. Quy mô thị trường trái phiếu tương đương 24% GDP, trong khi mức trung bình Đông Nam Á là 90%. Quy mô tài sản quản lý đầu tư (AUM) trên GDP cũng chỉ khoảng 4%, thấp hơn mức trung bình 30% của khu vực.
Theo ông Dũng, sự chênh lệch này tạo nên một nghịch lý: Việt Nam có các chỉ số tăng trưởng tốt nhưng tỷ lệ thâm nhập vốn và mặt bằng định giá vẫn thấp hơn một số quốc gia trong khu vực, trong đó có Thái Lan.
Ở chiều ngược lại, tăng trưởng cao trong khi độ thâm nhập vốn còn thấp cũng tạo dư địa để Việt Nam thu hút thêm dòng vốn. Dẫn dự báo từ một số quỹ đầu tư và tổ chức Big4, ông Dũng cho biết dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam đến năm 2030 có thể đạt khoảng 30 tỷ USD.
Dù vậy, diễn biến thị trường M&A những năm gần đây cho thấy một sự chuyển dịch. Tổng giá trị giao dịch năm 2025 tăng từ 6,9 tỷ USD lên 8,7 tỷ USD so với năm 2024, nhưng số lượng thương vụ thực tế lại giảm. Giá trị trung bình của một thương vụ theo đó tăng hơn 50%.

Ông Phạm Đức Dũng, Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư, CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) trình bày tại diễn đàn. Ảnh: Vũ Miên/Mekong ASEAN
Nhà đầu tư ngoại tìm gì ở doanh nghiệp Việt
Chia sẻ về cách nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là doanh nghiệp Nhật Bản, tiếp cận thị trường Việt Nam và lựa chọn đối tác M&A, bà Phi Thị Hoa, Tổng giám đốc Công ty ONE-VALUE, đơn vị tư vấn M&A Việt - Nhật cho rằng, doanh nghiệp Việt cần hiểu rõ văn hóa kinh doanh, tư duy cũng như quy trình ra quyết định của phía Nhật Bản nếu muốn nâng khả năng đi đến thành công của thương vụ.
Theo bà Hoa, M&A không nên chỉ được nhìn nhận dưới góc độ doanh nghiệp “bán mình” hay mất quyền sở hữu. Ở nghĩa rộng hơn, đây có thể là cơ hội mở ra một giai đoạn phát triển mới khi doanh nghiệp vừa tiếp cận nguồn vốn, vừa tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm (know-how) về sản xuất, quản trị, vận hành, đồng thời mở rộng sang thị trường và tập khách hàng mới.
Từ thực tế đó, theo CEO ONE-VALUE, doanh nghiệp Việt Nam cần hiểu nhà đầu tư Nhật Bản muốn nhìn thấy điều gì trên bàn đàm phán, đồng thời biết cách chuẩn bị tài liệu và cung cấp thông tin để có cơ sở đạt mức định giá tốt hơn cũng như nâng khả năng thu hút vốn.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, bà Hoa cho rằng thu hút FDI và nguồn vốn từ nhà đầu tư nước ngoài thông qua góp vốn, mua lại doanh nghiệp Việt Nam có thể trở thành một nguồn lực quan trọng.

Bà Phi Thị Hoa - CEO Công ty ONE-VALUE, đơn vị tư vấn M&A Việt - Nhật chia sẻ tại diễn đàn. Ảnh: BTC
Việt Nam trong tầm ngắm của dòng vốn M&A Nhật Bản
Theo đại diện ONE-VALUE, Nhật Bản thường xuyên nằm trong nhóm quốc gia có hoạt động đầu tư đáng kể tại Việt Nam, bên cạnh Hàn Quốc và Singapore. Một bộ phận doanh nghiệp Nhật Bản cũng thành lập công ty holding tại Singapore trước khi đầu tư vào Việt Nam. Vì vậy, khi doanh nghiệp Việt tìm kiếm nguồn vốn hoặc cơ hội tiếp cận thị trường nước ngoài, Nhật Bản là một thị trường có thể cân nhắc.
Bà Hoa cũng đề cập cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước vào tháng 5/2026 và cho rằng việc thúc đẩy M&A đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được nhìn nhận không chỉ ở cấp doanh nghiệp mà còn ở tầm hợp tác giữa hai quốc gia.
Theo số liệu được CEO ONE-VALUE chia sẻ, mỗi năm có hơn 300 thương vụ M&A giữa Việt Nam và Nhật Bản tại Việt Nam. Xét hoạt động đầu tư của Nhật Bản tại ASEAN, Singapore đứng đầu và Việt Nam xếp sau. Tuy nhiên, do Singapore thường được lựa chọn làm nơi thành lập công ty holding để đầu tư sang các quốc gia khác, bà Hoa đánh giá Việt Nam trên thực tế là một trong những điểm đến hấp dẫn đối với nhà đầu tư Nhật Bản trong hoạt động mua bán và sáp nhập.
Dòng vốn này hiện trải rộng trên nhiều lĩnh vực như sản xuất công nghiệp, bất động sản, hàng tiêu dùng, dịch vụ, năng lượng và y tế. Riêng ONE-VALUE cho biết mỗi năm tiếp cận và xử lý khoảng 200-300 nhu cầu M&A. Nếu năm 2025 ghi nhận khoảng 200 nhu cầu thì đến năm 2026, con số tiếp nhận đã tiến gần mốc 300 trong bối cảnh hoạt động đầu tư vào Việt Nam được thúc đẩy.
Dù nhu cầu đầu tư hiện hữu, một thương vụ với đối tác Nhật Bản không phải quá trình có thể hoàn tất trong thời gian ngắn.
Theo bà Hoa, kể từ khi nhà đầu tư Nhật Bản phát sinh nhu cầu, tìm được doanh nghiệp Việt Nam phù hợp, bắt đầu trao đổi sâu, tiến hành thẩm định, đàm phán, ký hợp đồng cho đến khi hoàn tất thương vụ thường mất khoảng một năm. Vì vậy, nếu đã có kế hoạch tìm kiếm đối tác nước ngoài, doanh nghiệp Việt cần thực hiện tái cấu trúc trước khi chính thức bước vào quá trình đàm phán.
CEO ONE-VALUE đề xuất một tầm nhìn khoảng 3 năm cho mục tiêu M&A. Hai năm đầu dành cho xây dựng chiến lược, tái cấu trúc và làm sạch các giao dịch, sổ sách kế toán; năm cuối cùng dành cho tìm kiếm đối tác phù hợp, làm việc với nhà đầu tư, đàm phán và hoàn tất thương vụ.
Tuy nhiên, một khoảng cách thường xuất hiện giữa hai bên chính là kỳ vọng về thời gian. Theo bà Hoa, nhiều chủ doanh nghiệp Việt Nam muốn hoàn thành thương vụ trong vòng 3-6 tháng, trong khi nhà đầu tư Nhật Bản thường không đưa ra quyết định nhanh như vậy khi mới tiếp cận thị trường hoặc bắt đầu tìm hiểu một doanh nghiệp. Việc quá nóng vội, đặt mục tiêu hoàn tất giao dịch trong thời gian ngắn vì thế có thể làm giảm khả năng thành công của quá trình M&A.

Bà Phi Thị Hoa, CEO Công ty ONE-VALUE - đơn vị tư vấn M&A Việt - Nhật. Ảnh: Vũ Miên/Mekong ASEAN
Nếu chỉ còn 12 tháng trước M&A, hãy ưu tiên tài chính
Nếu dự kiến thực hiện M&A trong vòng một năm nhưng chưa có nhiều thời gian chuẩn bị, bà Hoa cho rằng SME nên ưu tiên tài chính.
Chia sẻ với Mekong ASEAN, CEO ONE-VALUE nhận định tài chính, quản trị nhân sự và thị trường đều quan trọng. Tuy nhiên, các vấn đề về khách hàng hay nhân sự khó có thể giải quyết trong thời gian ngắn, đặc biệt khi doanh nghiệp đã bước vào quá trình đàm phán.
Trong khi đó, doanh nghiệp có thể tập trung ngay vào việc hoàn thiện hệ thống sổ sách, kế toán và tài chính, chuẩn hóa các con số để cung cấp rõ ràng cho nhà đầu tư Nhật Bản. Theo bà Hoa, đây là bước có thể thực hiện nhanh nhất để hỗ trợ quá trình đàm phán và nâng khả năng hoàn tất thương vụ.
Để tiếp cận dòng vốn Nhật Bản, doanh nghiệp Việt không chỉ cần một sản phẩm tốt, thị trường tiềm năng hay tốc độ tăng trưởng cao. Từ quá trình chuẩn bị kéo dài trước M&A đến cách trao đổi thông tin, xây dựng hệ thống quản trị, duy trì chất lượng và minh bạch tài chính, từng yếu tố đều có thể tác động đến cách nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá doanh nghiệp và quyết định có đi tiếp với thương vụ hay không.
Theo bà Hoa, thực tế tại Việt Nam có nhiều doanh nghiệp sở hữu tiềm năng, đội ngũ và lãnh đạo tốt, khả năng phát triển cao nhưng hệ thống quản trị lại chưa theo kịp.
Điều này thường xuất hiện ở các doanh nghiệp nhỏ có tốc độ phát triển nhanh. Khi quy mô hoạt động mở rộng nhưng phương thức quản trị vẫn phụ thuộc nhiều vào cá nhân, những lợi thế về sản phẩm, con người hay tiềm năng thị trường chưa chắc được chuyển hóa đầy đủ thành giá trị trong mắt nhà đầu tư.
Khi đánh giá một doanh nghiệp, phía Nhật Bản sẽ xem xét liệu giá trị của doanh nghiệp đã được thể hiện bằng một hệ thống có khả năng vận hành ổn định, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào nhà sáng lập (founder), hay chưa. Nếu chưa xây dựng được hệ thống như vậy, doanh nghiệp có thể bị nhìn nhận là có mức độ rủi ro cao hơn, qua đó ảnh hưởng đến định giá.
Tuy nhiên, điểm yếu về quản trị không đồng nghĩa cơ hội đầu tư sẽ khép lại. Nếu phía Nhật Bản nhận thấy doanh nghiệp có khả năng đổi mới, sáng tạo và sẵn sàng thay đổi sau khi nhà đầu tư tham gia, họ vẫn có thể đưa ra đề nghị và tiếp tục quá trình làm việc.
Ngược lại, nếu người quản trị hoặc lãnh đạo có tư duy quá khép kín, không sẵn sàng đổi mới, đây có thể trở thành một trong những nguyên nhân khiến thương vụ không thành công và làm giảm khả năng tiếp cận đối tác Nhật Bản.


