Khi dòng vốn dư thừa chảy sang Việt Nam, ai sẽ gánh chịu
Nếu ở bài trước, câu hỏi đặt ra là liệu Việt Nam có đang tự lặp lại sai lầm mở rộng đàn ồ ạt như Trung Quốc, thì ở bài này, một nguy cơ khác đang dần lộ diện, đó là chính dòng vốn và năng lực sản xuất dư thừa từ các thị trường đã bão hòa đang tìm đường dịch chuyển sang Việt Nam, nơi giá heo còn hấp dẫn và dư địa thị trường còn rộng.
Trong khi Trung Quốc phải giải bài toán dư thừa 40 triệu con heo nái, một số doanh nghiệp nước này đã tính đến việc mở rộng sản xuất ra bên ngoài biên giới, nơi thị trường chưa bão hòa và giá bán còn tốt hơn.
Vốn ngoại tiếp tục tìm đường vào Việt Nam
Theo thông tin đăng trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang đầu tháng 5/2026, UBND tỉnh đã làm việc với liên danh nhà đầu tư gồm Tập đoàn Geleximco và CTCP Tập đoàn Thực phẩm Nông lâm ngư nghiệp Đức Khang Tứ Xuyên về dự án chăn nuôi heo, gia cầm công nghệ cao kết hợp trồng chè tại xã Trường Sinh.
Dự án có quy mô gần 553 ha, trải trên các thôn Cu Ri, Sùng Lễ, Đồng Bừa, Đào Tiến, Cao Ngỗi và Phan Lương, với tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 300 triệu USD, tương đương hơn 7.854 tỷ đồng.

Giá thành chăn nuôi tại Việt Nam hiện cao hơn nhiều so với các nước.
Đây không phải tín hiệu đơn lẻ. Đã xuất hiện thông tin về việc một số doanh nghiệp nước ngoài tìm cách thu mua lại các trang trại nhỏ lẻ trong nước với mức giá cao.
Trong bối cảnh giá đầu vào nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có xu hướng tăng vì chi phí logistics leo thang khiến biên lợi nhuận thu hẹp, một số chủ trang trại và hộ chăn nuôi đang có xu hướng muốn chuyển nhượng hoặc liên doanh.
Khi giá heo tại Trung Quốc chỉ còn dao động 36.000 đến 42.000 đồng một kg, thấp hơn đáng kể so với Việt Nam, khoảng cách lợi nhuận giữa hai thị trường tạo động lực lớn để dòng vốn, công nghệ và cả nguồn heo giống, heo thịt tìm đường dịch chuyển sang các thị trường lân cận có giá bán cao hơn.
Giới chuyên gia trong ngành cảnh báo rằng nếu không kiểm soát tốt biên giới, nguồn heo giá rẻ từ bên ngoài tràn vào sẽ tạo áp lực lớn lên thị trường trong nước, một rủi ro không chỉ dừng ở nhập lậu heo sống mà còn mở rộng sang cả việc dịch chuyển năng lực sản xuất và đầu tư trực tiếp.
Nhóm dễ tổn thương nhất
Khi dòng vốn ngoại tràn vào cùng quy mô sản xuất lớn, công nghệ sinh học hiện đại và trong một số trường hợp là cơ chế hỗ trợ từ các quỹ bảo hiểm của nước sở hữu vốn, nhóm dễ tổn thương nhất chính là các trang trại nhỏ, doanh nghiệp quy mô vừa và hộ nông dân cá thể, vốn đã chật vật vì chi phí đầu vào tăng cao trong khi thiếu lợi thế về vốn, công nghệ và quy mô.
Có thể hình dung ba lớp rủi ro chồng lên nhau. Thứ nhất là rủi ro về giá, khi nguồn cung từ các trang trại công nghiệp lớn tăng nhanh sẽ kéo giá heo hơi giảm sâu và nhanh hơn ở những giai đoạn cầu yếu, giống như những gì đã diễn ra tại Trung Quốc, và hộ chăn nuôi nhỏ lẻ với chi phí trên mỗi kg thường cao hơn khối doanh nghiệp lớn sẽ là nhóm đầu tiên rơi vào thua lỗ khi giá xuống dưới ngưỡng hòa vốn.
Thứ hai là rủi ro cạnh tranh không cân sức, khi các trang trại công nghệ cao tích hợp chuỗi giá trị khép kín từ con giống, thức ăn đến giết mổ và chế biến có khả năng chống chịu qua các chu kỳ giá xuống tốt hơn nhiều so với hộ chăn nuôi truyền thống, khiến nhóm vừa và nhỏ đối diện nguy cơ bị đẩy dần ra khỏi cuộc chơi về dài hạn.
Thứ ba là rủi ro từ nguồn cung ngoại nhập và nhập lậu, khi chênh lệch giá còn lớn giữa Việt Nam và khu vực khiến việc kiểm soát biên giới lỏng lẻo có thể kéo mặt bằng giá trong nước xuống đột ngột, gây thiệt hại cho người chăn nuôi ở mọi quy mô nhưng nặng nề nhất với nhóm ít khả năng phòng vệ.
Cơ hội xuất khẩu để giải tỏa bớt áp lực dư cung trong nước hiện vẫn còn hạn chế. Giá thành chăn nuôi tại Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước xuất khẩu lớn, khi giá heo hơi tại Mỹ và Canada chỉ bằng khoảng một nửa Việt Nam, còn Lào và Thái Lan cũng có giá thấp hơn đáng kể.
Thêm vào đó, yêu cầu nghiêm ngặt về vùng an toàn dịch bệnh, trong bối cảnh dịch tả heo châu Phi vẫn xuất hiện rải rác tại nhiều địa phương, tiếp tục là rào cản khiến thịt heo Việt Nam khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Khi nguồn cung trong nước tăng nhanh mà đường ra xuất khẩu vẫn hẹp, áp lực dư thừa gần như chắc chắn sẽ dồn hết vào thị trường nội địa.
Từ những phân tích trên, nguy cơ dư cung của ngành chăn nuôi heo Việt Nam không chỉ đến từ việc mở rộng đàn trong nước, mà còn từ sự cộng hưởng của dòng vốn đầu tư nước ngoài đang tìm nơi trú ẩn mới sau khi thị trường gốc bão hòa.
Để tránh lặp lại vòng xoáy dư cung, giá thấp và thua lỗ kéo dài như một số thị trường lớn đang trải qua, cần rà soát tổng thể quy mô các dự án đầu tư chăn nuôi lớn, cả trong nước lẫn có yếu tố nước ngoài, nhằm hạn chế nguy cơ nguồn cung vượt xa nhu cầu nội địa và năng lực xuất khẩu thực tế.
Cùng với đó, cần xây dựng chính sách hỗ trợ hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chuyển đổi mô hình theo hướng liên kết vệ tinh với doanh nghiệp lớn hoặc chuyển sang các phân khúc đặc thù. Việc kiểm soát biên giới đối với heo sống và thịt nhập lậu cũng cần được siết chặt, đồng thời dữ liệu về quy mô đàn phải được minh bạch hơn để cơ quan quản lý và thị trường có thể phản ứng sớm.
Về dài hạn, ngành chăn nuôi cần thúc đẩy đầu tư vào chế biến sâu và xây dựng vùng an toàn dịch bệnh đạt chuẩn quốc tế để mở đường xuất khẩu, qua đó giảm áp lực dồn toàn bộ vào sức mua nội địa vốn còn hạn chế.
Còn tiếp: Khi năng lực sản xuất đã đủ, đến lúc tính hạn ngạch phát triển đàn heo
Theo thucanchannuoivietnam
Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/khi-dong-von-du-thua-chay-sang-viet-nam-ai-se-ganh-chiu.html











